Total Pageviews

Tuesday, February 19, 2013

Sức mạnh 'lá chắn thép' Bastion trấn giữ biển Đông


Đoàn 681 Hải quân, Quân chủng Hải quân được trang bị Tổ hợp tên lửa bờ Bastion và Tổ hợp ra đa bờ Monolit-B. Bastion-P là một trong những hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển cơ động hiện đại nhất trên thế giới hiện nay.
Ảnh:
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion Việt Nam đang sở hữu.
Cùng với các loại vũ khí hiện đại khác như các phi đội máy bay SU-27/30 tác chiến không và biển; tàu ngầm kilo phục kích dưới mặt nước; các loại tàu hộ vệ tên lửa cao tốc trang bị mạnh như Molniya 'tia chớp' và hộ vệ hạm tàng hình Gepard 3.9 tác chiến trên mặt nước; các hệ thống tên lửa có thể cất giấu trong các containner như Club-K hay Kh-35 đảm bảo yếu tố bí mật bất ngờ, nhất là tổ hợp tên lửa Bastion-P có sức mạnh hủy diệt ghê gớm... Có thể giúp Việt Nam xây dựng chiến lược 'chống tiếp cận' hết sức hữu hiệu trước các nguy cơ đến từ hướng biển, đồng thời tạo sức mạnh răn đe với bất kỳ kẻ thù nào dám manh động xâm phạm chủ quyền biển đảo của nước ta.
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion được bắt đầu thiết kế và phát triển trong thời kỳ Xô Viết vào những năm 80. Nhưng chỉ vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 mới được đưa vào trong biên chế và xuất khẩu ra nước ngoài. Một số tổ hợp đã được Việt Nam và Syria đặt mua. Khách hàng tiềm năng tiếp theo là Velezuela.
Đầu năm 2011, Hạm đội Biển Đen, Lữ đoàn pháo binh - tên lửa số 11 (tên gọi Anapa) nhận được tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển cơ động thứ 3 "Bastion". Hai tổ hợp trước đã được biên chế vào lữ đoàn vào năm 2010. Lữ đoàn 11 được trang bị trong biên chế trước đây là: Pháo tự hành phòng thủ bờ biển SU-130mm A-222 và tổ hợp tên lửa chống tàu "Redoubt".
Đây là tổ hợp vũ khí rất mạnh, một trong những tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển tốt nhất, có khả năng cơ động cao, sử dụng tên lửa chống tàu có tốc độ siêu âm 3M55 "Yakhont" ("Onyx").
Tổ hợp tên lửa Bastion.
Tổ hợp tên lửa Bastion.
Tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển cơ động Bastion có khả năng tiêu diệt tất cả các tàu chiến, tàu vận tải, tàu xuống các loại, tấn công các mục tiêu đơn lẻ hoặc tấn công các cụm tầu thuyền chiến đấu, đồng thời có thể tấn công các cụm binh lực đổ bộ đường biển, đường không, các cụm binh lực trang bị nặng cho các hoạt động đột phá. Tổ hợp có thể hoạt động trong điều kiện hỏa lực đối phương rất mạnh, khả năng gây nhiễu điện từ và chế áp điện tử của đối phương cao nhất. Tổ hợp tên lửa Bastion có khả năng tấn công mục tiêu xa đến 300 km và bảo vệ một tuyến bờ biển chống tác chiến đổ bộ của đối phương lên đến 600 km.
Biên chế của tổ hợp: Tên lửa chống tàu K-130 "Yakhont" trong các thùng phóng dạng container; Xe phóng đạn (SPM K340P) trên thân xe Kamaz- 43101, với biên chế kíp xe là 5 chiến sĩ, hoặc trên xe MZKT-7930 kíp xe 3 người; Xe điều khiển tên lửa MBU K380P trên thân xe MZKT-65 273 với kíp xe điều khiển là 4 người; Thiết bị quản lý thông tin kỹ thuật đầu đạn tên lửa với thiết bị điều khiển bay trên tên lửa đất đối biển; Hệ thống điều khiển hỏa lực tự động ASBU; Tổ hợp trang bị hậu cần kỹ thuật; Xe vận tải và nạp đạn TLV K342P được trang bị cần cẩu có trọng tải 5,9 tấn dùng để tiếp đạn cho xe K340P; Xe hỗ trợ trực sẵn sàng chiến đấu; Hệ thống huấn luyện; Hệ thống máy bay trực thăng chỉ thị mục tiêu.
Bên cạnh cấu hình Tổ hợp nêu trên, còn thiết bị hỗ trợ ngắm bắn như: Hệ thống ra-đa ngắm bắn bờ biển tự hành Monolit-B, hay hệ thống ngắm bắn đường không 1K130E (gồm ra-đa Oko băng sóng đề-xi-mét gắn trên máy bay trực thăng Ka-31).
Biên chế tiêu chuẩn của tổ hợp Bastion: 4 ống phóng tên lửa thẳng đúng trên hai xe vận tải-bệ phóng đạn "Yakhont", kíp lái 3; 1-2 xe điều khiển hỏa lực (kíp lái 5 người); 1 xe hỗ trợ trực sẵn sàng chiến đấu; 4 xe vận tải nạp đạn; Bổ sung cho tổ hợp Bastion có thể có rada tìm kiếm và và phát hiện mục tiêu tầu trên mặt biển, chỉ thị mục tiêu Monolit B trên xe, tầu cơ động và trên máy bay trực thăng chiến đấu.
Thời gian triển khai sẵn sàng chiến đấu 5 phút. Sau đó Tổ hợp có thể tấn công liên tục 8 tên lửa. Cơ số đạn của tổ hợp: max 24 tên lửa "Yakhont" cho 2 bệ phóng. Thời gian phóng liên tiếp là 2,5s cho một tên lửa. Sau khi triển khai sẵn sàng chiến đấu, Tổ hợp sẽ trực chiến đấu trong vòng 24 tiếng không cần sự hỗ trợ của tranh bị dự phòng. Thêm xe hỗ trợ trực sẵn sàng chiến đấu là 30 ngày. Thời gian khai thác sử dụng tổ hợp 10 năm.
Sơ đồ tác chiến của hệ thống tên lửa chống tầu Bastion-P.
Sơ đồ tác chiến của hệ thống tên lửa chống tầu Bastion-P.
Tên lửa chống tàu "Yakhont" ("Onyx") được thiết kế và chế tạo theo sơ đồ khí động học với những cách hình thang vuông gấp lại được và mở ra khi phóng, để ổn hướng và điều hướng, đồng thời các van điều hướng luồng phụt, tại phần đáy đạn và hệ thống tạo luồng hút tại chóp mũi đạn, giúp đạn tên lửa tự ổn định và xoay theo hướng phóng dự kiến. Tên lửa có hệ thống dẫn đường tổ hợp (hệ thống đạo hàng quán tính và hệ thống tự dẫn radar ở giai đoạn cuối của quỹ đạo bay của tên lửa. Tên lửa dùng động cơ phản lực công xuất lớn, bay với tốc độ siêu âm (động cơ phản lực dòng khí thẳng với ống phóng tăng tốc sử dụng thuốc phóng dạng rắn. Động cơ có bộ phận nạp khí đồng trục ở đầu tên lửa và ống chụp đầu tên lửa hình nón.
Thông số kỹ thuật tên lửa "Yakhont" ("Onyx"): Chiều dài: 8,0 m; Đường kính: 0,70 m; Sải cánh: 1,7 m; Khối lượng: 3000 kg; Ống phóng container kín chiều dài: 8,9 m; Đường kính: 0,72 m; Khối lượng với ống phóng container TNS: 3.900 kg; Khối lượng đầu đạn: 200 kg; Tốc độ trên cao: 750 m/s (2,6 М); Tốc độ trên mặt nước tầm thấp: 680 m/s (2 М); Tầm bay của tên lửa: Khi tên lửa bay với tầm cao thay đổi theo quỹ đạo bay: (Giai đoạn đường bay cuối- 40 km)- 300 km; Khi tên lửa bay thấp với tầm bay cao là: 15 m - 120 km; Tầm bay cao của tên lửa 10-14.000 m; Động cơ phản lực: SPVRD; Lực đẩy: (кН) 4000; Khối lượng dầu T-6, 200 kg; Ống tăng tốc phản lực: Thuốc phóng dạng rắn; Khối lượng động cơ phản lực, 500 kg.
Hệ thống điều khiển: Trong giai đoạn bay hành trình - Đạo hàng quán tính; Trong giai đoạn cuối của quỹ đạo - dẫn đường bằng radar đơn xung, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết; Tầm phát hiện mục tiêu của radar: 50 - 70 km; Góc tìm kiếm và phát hiện mục tiêu ± 45°; Thời gian sẵn sàng hoạt động của radar khi bật: 2 phút; Khối lượng của radar - 85 kg; Điều kiện hoạt động của radar tự dẫn - biển động cấp 7.
Những đặc điểm kỹ chiến thuật của tên lửa "Yakhont" ("Onyx"): Tấn công mục tiêu ngoài đường chân trời; Chế độ tự động hóa hoàn toàn (bắn - quên); Có nhiều quỹ đạo bay khác nhau (thấp; cao và thấp); tốc độ bay siêu âm trên tất cả các tầm bay khác nhau; Khó nhận biết bằng radar trên boong tầu do sử dụng công nghệ tàng hình (stealth); Có thể sử dụng trên mọi phương tiện mang: tầu nổi, tầu ngầm và các phương tiện phóng trên mặt đất.
Tên lửa chống tàu "Yakhont" ("Onyx") lúc đầu được chế tạo như một tên lửa đa dụng, được lắp trên máy bay, tàu chiến nổi, tàu ngầm, đồng thời trên các bệ phóng trên mặt đất: Tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển Bastion; Tàu ngầm dự án 885 "Ash";
Tàu phóng tên lửa cỡ nhỏ dự án 1234.7 "Rolling"; Các tàu tuần biển dự án 22350 "Đô đốc Gorskov", kế hoạch đóng 20 chiếc tàu loại này (10 tàu trong 10 năm).
Sơ đồ hoạt động của tên lửa chống tàu Yakhont.
Sơ đồ hoạt động của tên lửa chống tàu Yakhont.
Nguyên tắc hoạt động của tên lửa "Yakhont"
Sau khi tên lửa được phóng khỏi ống phóng, động cơ tăng tốc sử dụng nhiên liệu rắn khởi động, ống khởi động được đặt trong buồng đốt của động cơ tên lửa, trong vòng vài giây, ống tăng tốc sẽ tăng tốc tên lửa lên đến 2M. Sau khi cháy hết, ống tăng tốc được đẩy ra ngoài bằng luồng khí và bắt đầu hoạt động của động cơ hành trình chính. Động cơ đẩy tên lửa bay với tốc độ 2,5M theo quỹ đạo đường đạn đã được nạp trong máy tính trên tên lửa.
Radar tự dẫn trên đầu đạn có thể khóa mục tiêu như tầu tuần dương trên khoảng cách đến 75 km. Sau khi phát hiện và khóa mục tiêu. Máy tính sẽ hạ độ cao của tên lửa xuống còn 5-10 m so với mặt nước biển, làm giảm đến tối thiểu khả năng đánh chặn của hệ thống phòng không trên tầu đối phương trong trường hợp địch phát hiện ra.
Chế độ hạ độ cao bay của tên lửa thấp hơn độ cao phát hiện của radar làm gián đoạn khả năng bám tên lửa của các loại vũ khí phòng không, tốc độ siêu âm và độ cao thấp trong giai đoạn bám và tự dẫn tấn công mục tiêu làm cho đối phương không thể chặn đánh được tên lửa.
Lần thứ hai radar được bật lên để bắt mục tiêu trong giai đoạn cuối, dẫn đường và đưa tên lửa vào mục tiêu. Thời gian ngắn và tầm xa của radar cho phép sử dụng các radar đơn xung có độ chính xác không cao. Lần bật radar thứ nhất ở độ cao cho phép xác định mục tiêu, lựa chọn mục tiêu của từng tên lửa theo cụm tàu và loại trừ các mục tiêu giả. Đây là tính năng rất hiệu quả của Yakhont. Tương tự như máy bay cảm tử của Nhật trong thế chiến thứ 2, vụ tấn công của tên lửa Yakhont với số lượng lớn đảm bảo khả năng tiêu diệt các tàu xuồng rất cao. Và do tốc độ cao > 2M. Khả năng tiêu diệt tên lửa ở tầm gần là không thể.
Một trong những đặc trưng của Yakhont là chương trình phần mềm nhân tạo chạy trên máy tính đầu đạn. Nó cho hiệu quả chiến đấu rất cao khi bắn loạt tên lửa. Trong trường hợp bị tấn công ồ ạt với số lượng lớn các tàu, chương trình trên đầu đạn tự chọn và đánh giá độ quan trọng của mục tiêu, lựa chọn tọa độ và phương thức tấn công. Đồng thời, chương trình cũng lựa chọn khả năng chống lại tác chiến điện tử và lựa chọn phương án tránh góc bắn của hỏa lực phòng không đối phương để tấn công tầu.
Khi tiêu diệt mục tiêu trong đội hình, các tên lửa còn lại chuyển hướng sang các mục tiêu khác, loại trừ khả năng 2 tên lửa cùng tiêu diệt một mục tiêu. Tính năng chiến thuật này được đảm bảo bằng máy tính trên tên lửa có hình ảnh của các loại tàu và các thông số khác, cho phép xác định loại cụm tàu và tàu (vận tải, tuần dương, tầu tuần tiễu, tầu sân bay, và tàu xuồng của lực lượng đổ bộ biển, từ đó tấn công mục tiêu quan trọng nhất).
Trong điều kiện phát triển sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Hải quân, các tổ hợp tên lửa này cho phép bảo vệ vững chắc vùng biển, bờ biển của quốc gia. Đồng thời, cũng phải sử dụng tác tổ hợp tên lửa có tầm bắn gần, dưới 120 km Bal-E, tên lửa chống tầu Club-M có tầm bắn đến 150 km. Đồng thời phát triển các loại pháo tự hành bờ biển, tạo thành hệ thống phòng thủ lớp vững chắc vùng bờ biển.
Theo Tiền Phong

Friday, January 25, 2013

Hành trình 18 tỷ km của tàu thăm dò vũ trụ Voyager 1

Được phóng đi từ 35 năm trước, tàu thăm dò vũ trụ Voyager 1 đã trải qua quãng đường 18 tỷ km, tới ranh giới cuối cùng của hệ mặt trời với không gian bao la, nơi xa nhất mà con người tiếp cận.


Vào thời điểm được thiết kế, hai tàu thăm dò hệ mặt trời thuộc dự án Voyager làVoyager 1 và Voyager 2 được coi là thành tựu vượt bậc của công nghệ chinh phụckhông gian. Sở hữu hệ thống lò phản ứng hạt nhân kích cỡ nhỏ nhưng nó vẫn đảm bảo cho các tàu Voyager hoạt động liên tiếp nửa thế kỷ, phục vụ hành trình khám phá hệ mặt trời vĩ đại.
Được NASA phóng đi ngày 5/9/1977, Voyager 1 với trọng lượng 722 kg chuyên trách nhiệm vụ khám phá toàn bộ hệ mặt trời và những hành tinh xa xôi trên đường đi của nó. Ngoài việc cung cấp cho các nhà khoa học cái nhìn chi tiết về những hành tinh chưa từng được tiếp cận, Voyager 1 còn giúp xác định chính xác độ lớn của hệ mặt trời, dựa vào quãng đường khổng lồ nó vượt qua.
Ngoài hệ thống lò phản ứng hạt nhân cực mạnh, đủ để cung cấp hoạt động liên tục của con tàu trong 50 năm, Voyager 1 còn sở hữu hệ thống thông tin liên lạc qua sóng radio đặc biệt, cho phép nó chuyền dữ liệu vượt qua hàng tỷ km về trái đất. Sử dụng bước sóng cực dài, radar của Voyager 1 có thể truyền về trái đất lượng dữ liệu tương đương 115,2kb/s.
[IMG]
Tàu thăm dò hệ mặt trời Voyager 1 đang được hoàn tất những chuẩn bị cuối cùng trước khi lắp đặt lên tàu vũ trụ để thực hiện hành trình lịch sử. Cả 2 tàu thăm dò thuộc dự án Voyager đều được lắp ráp và phóng đi từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy tại mũi Canaveral, Florida tháng 9/1977.
[IMG]
Tên lửa Titan đưa Voyager 1 vào quỹ đạo ngày 5/9/1977, 16 ngày trước khi tàu Voyager 2 được phóng đi với cùng nhiệm vụ. 2 năm sau, Voyager 1 đã vượt qua quãng đường 278.000 km để tới chụp hình sao Mộc trước khi bay qua và ghi lại hình ảnh sao Thổ.
[IMG]
Bức ảnh Voyager 1 chụp chấm đỏ khổng lồ trên bề mặt sao Mộc. Đây có thể là trung tâm một cơn bão khí gas khổng lồ, tồn tại suốt hơn 300 năm qua trên bề mặt sao Mộc. Những điểm trắng là loại mây khác, được cho là hình thành từ những năm 1940.
[IMG]
Vòng tròn bao quanh sao Mộc hoàn toàn không thể nhìn thấy từ trên trái đất. Được tạo thành từ bụi và thiên thạch do lực hút của sao Mộc, có cấu trúc tương tự với vòng tròn bao quanh sao Thổ và sao Diêm Vương, đây là lần đầu tiên vòng tròn này lộ diện với con người.
[IMG]
Hình đĩa bụi khổng lồ bao quanh sao Thổ được Voyager 1 chụp lại ngày 21/8/1981, với đường kính 2,5 triệu dặm.
[IMG]
Hai mặt trăng Triton và Neptune của sao Hải Vương được tàu thăm dò Voyager 1 chụp ảnh. Triton là khối cầu nhỏ hơn hình lưỡi liềm, nhìn giống với mặt trăng trên trái đất.
[IMG]
Sao Mộc và những mặt trăng của nó bao gồm Europa, Ganymede và Callisto được chụp lại bởi tàu thăm dò Voyager 1.
[IMG]
Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến đĩa vàng Voyager trên các tàu thăm dò. Được thiết kế chuyên dụng, đĩa vàng mang đầy đủ thông tin số hóa về trái đất và những dạng sống của nó. Ngoài ra, đĩa vàng còn mang những âm thanh trái đất, bao gồm lời phát biểu của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và Tổng thống Mỹ thời điểm đó cùng bài hát của cá voi, tiếng trẻ em khóc, tiếng sóng vỗ bờ và những tác phẩm âm nhạc kinh điển.
[IMG]
Tính tới thời điểm hiện tại, các tàu thăm dò hệ mặt trời Voyager 1 và Voyager 2 đang tạo ra những kỷ lục, với khoảng cách lần lượt là 18 tỷ km và 15,5 tỷ km so với mặt trời. Thiết kế đột phá giúp các tàu Voyager trở thành cỗ máy nhân tạo di chuyển xa nhất trong không gian mà con người từng chế tạo.
 [Nguồn: tinhte.vn]

Tìm hiểu về chuẩn âm thanh Dolby Atmos

[IMG]
Chuẩn Atmos (bên phải) hướng âm thanh đến tai người nghe đúng hướng hơn

Nhân việc phim hoạt hình Brave sắp ra mắt sử dụng chuẩn âm thanh Dolby Atmos mới, chúng ta hãy cùng tìm hiểu sơ lược về chuẩn này. Dolby Atmos được hãng Dolby chính thức giới thiệu vào tháng 4 vừa qua, được xem là bản nâng cấp đáng giá so với chuẩn Dolby Surround 7.1 hiện tại.

Vào năm 2010, Dolby từng giới thiệu chuẩn âm thanh vòm 7.1 cho các rạp chiếu phim thì 2 năm sau, tháng 4/2012 vừa rồi họ đã đưa ra một chuẩn mực mới với tên gọi Dolby Atmos. Nếu như Dolby Surround 5.1 và 7.1 đem đến cho người nghe sự sống động và trung thực trong âm thanh thì Atmos sẽ nâng chất lượng đó lên thêm nhiều lần nữa. Kể từ chuẩn Atmos, các nhà làm phim có thể thoải mái thể hiện các hiệu ứng âm thanh, tiếng động mà họ muốn dễ dàng hơn. Bởi Atmos hỗ trợ âm thanh có thể phát ra từ (lên đến) cả trăm cái loa vệ tinh, vốn sẽ được lắp đặt dày đặc khắp nơi trong khán phòng, từ trái qua phải, trên xuống dưới cho đến cả dưới nền và trên trần nhà.


[IMG]
Kodak Theatre, nơi Dolby dùng quảng bá về Atmos

Nhờ vậy, âm thanh và tiếng động sẽ được tái tạo một cách chân thực và sống động hơn. Đây cũng là điểm khác biệt dễ nhận thấy ở Atmos so với các chuẩn cũ. Ngoài ra, Atmos cũng thêm vào nhiều loa chuyên thể hiện các âm thanh ở âm vực cao nhằm tái tạo thật nhất các tiếng động như tiếng mưa rơi, tiếng gió máy bay trực thăng, tiếng ong bay, chim kêu...

[IMG]
Mô phỏng hệ thống loa Atmos,
màu Đỏ là các loa theo chuẩn cũ và màu Xanh là số loa chuẩn Atmos thêm vào

Dolby cũng cho biết chuẩn Atmos hoàn toàn tương thích ngược với Surround 7.1, 5.1 và Stereo 2.0, tức là một nội dung khi được tạo ra với âm thanh Atmos thì vẫn có thể tinh chỉnh lại để thích hợp với các chuẩn cũ. Hiện tại Dolby Atmos chỉ mới áp dụng cho hệ thống âm thanh của các rạp chiếu phim, khán phòng cao cấp chứ chưa có lịch trình cụ thể có mặt trên các phương tiện giải trí tại gia. Khi được hỏi về ưu/nhược điểm so với IMAX, phó chủ tịch dịch vụ Dolby toàn cầu David Gray cho biết: "Về cơ bản Dolby Atmos và IMAX là 2 lĩnh vực hoàn toàn khác nhau, và IMAX chỉ sử dụng âm thanh 5.1 nên hầu như không có gì để so sánh". (Đơn giản vì IMAX là chuẩn màn ảnh rộng, còn Dolby Atmos là chuẩn âm thanh. Đem hình ảnh so sánh với âm thanh là điều hoàn toàn không thể.)

Hiện tại chỉ có tổng cộng 25 nơi trên toàn Thế giới đã được trang bị chuẩn Dolby Atmos, trong đó 17/25 là ở Mỹ (bao gồm 14 rạp chiếu phim và 3 văn phòng của Dolby). Tham khảo danh sách ở đây, người dùng ở gần có thể đến nơi này để được trải nghiệm thử âm thanh Dolby Atmos kể trên. Họ cho biết sẽ có thêm nhiều nơi được trang bị công nghệ này vào năm 2013. Chuẩn âm thanh của Dolby được áp dụng trên gần 90% các hệ thống âm thanh giải trí hiện nay (rạp phim, dàn loa, dàn âm thanh, tivi, máy nghe nhạc, điện thoại... chưa kể 100% máy tính chạy Windows và Mac OS X đều tương thích âm thanh của Dolby).

[Nguồn: tinhte.vn]

Tìm hiểu về bom Big Ivan - Sức công phá bằng 10 lần tất cả bom đạn trong Thế chiến thứ 2 cộng lại

tsar

Tháng 8/1945, Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố lớn của Nhật Bản là Hiroshima và Nagasaki, tuy đây là 2 quả bom nguyên tử đầu tiên của thế giới, nhưng sức công phá của nó vẫn vô cùng to lớn mà cho tới nay người ta vẫn chưa tính toán được hết thiệt hại mà nó đã gây ra cho nước Nhật. Nhưng đó không phải là nội dung chính của bài viết này, ở đây, mình muốn kể cho các bạn nghe về quả bom hạt nhân lớn nhất thế giới mà con người từng tạo ra, với sức mạnh không thể tưởng tượng được. Quả bom đó có tên là Big Ivan, hay còn được biết tới với một tên khác là Tsar Bomba, do Liên Xô cũ chế tạo từ năm 1961, tức cách đây 52 năm.

Hồi tháng 7/1961, Tổng bí thư đầu tiên của liên bang Xô Viết là ông Nikita Khrushchev quyết định thôi chương trình thử nghiệm bí mật các loại vũ khí hạt nhân mà nước này đang thực hiện từ năm 1958 tới lúc bấy giờ, và "phải làm một cái gì đó" để phương Tây, nhất là Mỹ, biết tiềm năng quân sự của Liên Xô mạnh như thế nào. Và "việc đó" phải được thực hiện xong trước khi Đại hội Đảng Liên Xô lần thứ 22 được tổ chức vào 10/1961. Thời cơ đang chín muồi, các nước tư bản đều săm soi Liên Xô để xem anh Hai của chủ nghĩa Cộng Sản làm được gì.

Vấn đề trở nên phức tạp khi những thứ vũ khí hủy diệt hàng loạt mà Liên Xô đang có đều không làm Nikita Khrushchev thỏa mãn, ông ta muốn có thứ gì đó thật mạnh, phải mạnh hơn quả bom nhiệt hạch Castle Bravo mà Mỹ từng cho nổ hồi ngày 1/3/1954 (Đây là vụ nổ hạt nhân lớn nhất mà Mỹ từng thử nghiệm, sức công phá của quả bom khoảng 15 megaton). Một nhóm gồm 4 chuyên gia được lập ngay sau đó, gồm Victor Adamskii, Yuri Babaev, Yuri Smirnov và Yuri Trutnev. Điều kì diệu là nhóm này thiết kế và tạo ra quả bom Tsar Bomba dài gần 7,5 mét và có 3 tầng (hay còn gọi là Big Ivan) chỉ sau 15 tuần làm việc. Đây là loại bom hy-drô AN602 (bom khinh khí, bom H) sử dụng phản ứng nhiệt hạch để tạo ra một năng lượng khủng khiếp và thổi bay tất cả mọi thứ xung quanh nó. Người ta ước tính sức mạnh của Big Ivan gấp 1400 lần 2 quả bom Fat ManLittle Boy (2 quả bom Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945) cộng lại, hoặc nó bằng 10 lần tổng tất cả bom đạn mà con người sử dụng trong Thế chiến thứ 2 cộng lại. Ghê chưa?


Về cân nặng, Tsar Bomba nặng tới 27 tấn, gần bằng trọng lượng của chiếc máy bay Tu-95 dùng để chở nó, và vì kích thước quá khổ như vậy (dài 7,5 mét) mà người Soviet lúc này phải tháo luôn khoang chứa bom của máy bay mới nhét vừa quả bom vào trong. Lúc 11 giờ 32 trưa ngày 30/10/1961, thiếu tá Andrei Durnovtsev lái chiếc Tu-95 mang quả bom bay đến và thả nó xuống trạm thử hạt nhân ở vịnh Mityushikha, vùng đất phía Bắc nước Nga ngày nay, ở độ cao 10,5km. Big Ivan được mang dù để rơi từ từ xuống, để dành ra 188 giây cho Andrei kịp bay chiếc Tu-95 thoát khỏi vùng ảnh hưởng của vụ nổ. Khi rơi xuống còn độ cao 4000 mét thì quả bom nổ.

big ivan
Ảnh màu của vụ nổ bom hạt nhân Big Ivan

Quả bom tạo ra một vụ nổ lớn ngoài sức tưởng tượng lúc bấy giờ, một cột lửa hình cây nấm cao 64.000 mét (không nhầm đâu, là 64 km thật đó) vương đến tầng bình lưu của bầu khí quyển và đường kính của cột lửa dài đến 3000 mét. Sức mạnh của vụ nổ tạo ra một vụ chấn động tương đương 5 độ richter, áp suất không khí lên tới 300 PSI và ánh sáng của vụ nổ có thể dễ dàng thấy được dù ở cách xa đó 1000km. Vụ nổ đã làm vỡ rất nhiều cửa sổ nhà cửa ở Na Uy và Phần Lan, vốn cách đó tới 900 km và sang bằng tất cả công trình, tòa nhà bỏ hoang ở Severny cách đó 55 km. Một người chứng kiến vụ nổ đã nói rằng cột lửa và khói do Big Ivan tạo ra nhìn như một ngôi sao Mộc thu nhỏ.

Thực ra, đó chỉ là một nửa sức mạnh thực sự của quả bom Big Ivan, vốn được thiết kế với sức mạnh 100 megaton, nhưng cuối cùng đã được thu gọn lại còn 57 megaton. Được biết, trước thời điểm cho nổ thử thì Liên Xô đã quyết định cắt bớt 50% sức mạnh của quả bom, nhằm ngăn ngừa vụ nổ sẽ thổi bay luôn một phần đất nước, thật may là họ đã có quyết định đúng đắn như vậy.

original
So sánh cột khói của các vụ nổ, bom Little Boy chỉ là một chấm nhỏ so với Tsar Bomba

Huawei và Vodafone thử nghiệm thành công mạng 2Tbps, down 40 video HD mỗi giây

huaweivodafone
HuaweiVodafone vừa công bố thử nghiệm thành công mạng mới cho phép chúng ta truyền tải dữ liệu với tốc độ 2Tb mỗi giây, tức khoảng 262 Gigabyte dữ liệu mỗi giây. Nếu tính trung bình mỗi bộ phim HD có dung lượng 6,5GB, bạn sẽ tải được 40 bộ phim chỉ trong một giây duy nhất. Điều đáng nói là tuy tốc độ cao như vậy nhưng tốc độ này có thể đạt được với hạ tầng mạng hiện tại của Vodafone Đức, 2 công ty chỉ phải bổ sung và nâng cấp một phần mà không phải thiết lập mới hoàn toàn. Được biết Huawei và Vodafone đã thử truyền tải dữ liệu ở khoảng cách 1500 và 3325km nhưng tốc độ vẫn giữ được ở mức 2Tbps.

Lưu ý: mạng 2Tbps này vẫn chưa phải là mạng đến từng hộ gia đình mà nó là mạng xương sống, mạng cơ sở (backbone network) truyền tải dữ liệu giữa các hệ thống máy chủ lớn ở datacenter hay ISP... với nhau. Tốc độ phổ biến hiện nay vào khoảng 100Gbps. Việc nâng cao tốc độ đường truyền ở khoảng cách lớn kiểu này rất có ý nghĩa, đặc biệt là với những nước như Việt Nam vì băng thông đường truyền Internet quốc tế của nước ta vẫn còn thấp.

Nguồn: Huawei

Nén 2,2 triệu GB dữ liệu trên 1 gram chuỗi DNA

dna

Các nhà khoa học thuộc viện nghiên cứu European Bioinformatics Institute vừa đạt được một thành tựu mới trong lưu trữ thông tin khi có thể lưu đến 2,2 Petabyte (tương đương hơn 2,2 triệu GB) dữ liệu vào một chuỗi DNA nhân tạo có cân nặng chỉ 1 gram. Và đáng khen hơn nữa là họ cũng có thể trích xuất lại toàn bộ số lượng dữ liệu đó với độ chính xác đạt 100%, mở ra một tiềm năng mới trong việc lưu trữ thông tin của con người.

Trong thử nghiệm, người ta đã nén bài diễn thuyết "I have a dream" năm 1963 của Martin Luther King dưới định dạng MP3 và 154 bài thơ Sonnet của Shakespeare, tất cả được lưu trữ trong một chuỗi DNA. Gói dữ liệu này không nặng tới 2,2 Petabyte nhưng khi nhân lên theo cấp số nhân cho đủ 1 gram DNA thì dung lượng của gói thông tin này sẽ tương đương với con số đó. Để đạt được mật độ lưu trữ thông tin cao như vậy, người ta phải dùng đến toàn bộ 4 thành phần Nucleotide của DNA là A, T, C và G. Đặc biệt, họ còn có thể áp dụng cơ chế sửa lỗi trong chuỗi các phân tử phức tạp để đạt được khả năng phục hồi lại toàn bộ thông tin trong DNA với độ chính xác đạt 100%.

Tuy nhiên chi phí để làm ra một chuỗi DNA nhân tạo như vậy để lưu trữ thông tin còn rất đắt đỏ nên muốn nó trở nên phổ biến cần phải có một thời gian dài. Trước đây, trường đại học Harvard cũng từng đạt được thành công lớn khi lưu trữ thành công một quyển sách trên các chuỗi DNA.

Theo Gizmodo

Tuesday, January 22, 2013

Apple và tỉ lệ vàng, hình chữ nhật vàng, dãy Fibonacci trong thiết kế

[IMG]

Logo quả táo khuyết của Apple thì ai cũng biết và rất nổi tiếng nhưng ít ai biết cách mà các nhà thiết kế đã tạo ra nó, hay nói cách khác là nó được vẽ ngẫu nhiên hay theo một tỉ lệ nào? Thật tuyệt vời khi người ta khám phá ra rằng logo quả táo được thiết kế theo tỉ lệ vàng được giới hội hoạ và kiến trúc áp dụng trên những tác phẩm kinh điển. Cụ thể, Rob Janoff đã tạo nên logo Apple dựa trên hình chữ nhật vàngdãy số Fibonacci huyền ảo. Không chỉ có logo quả táo, logo iCloud mới đây, logo Mac OS Lion, iPhone 4 cũng chịu ảnh hưởng từ tỉ lệ vàng (Golden Ratio).


Tỉ lệ vàng trong toán học là một phát minh rất quan trọng và đã có từ lâu đời. Theo Wikipedia, "hai đại lượng được gọi là có tỷ số vàng hay tỷ lệ vàng nếu tỷ số giữa tổng của các đại lượng đó với đại lượng lớn hơn bằng tỷ số giữa đại lượng lớn hơn với đại lượng nhỏ hơn". Tỉ lệ vàng được ký hiệu bằng ký tự "phi" (φ) và 1 phi bằng 1,618033..., đó là một số vô tỷ. Tỉ lệ vàng được phát minh ra từ khi nào thì không ai biết chính xác, chỉ biết rằng nó đã tồn tại từ cách đây hàng ngàn năm và ứng dụng của nó cũng không hề nhỏ. Các kiến trúc kinh điển như đền thờ Parthenon, Hy Lạp; kim thự tháp Keop (Cheops) hay khuôn mặt nàng Mona Lisa cũng được vẽ theo tỉ lệ vàng... Tỉ lệ vàng trong những tác phẩm kể trên được diễn tả theo một hình chữ nhật vàng, hình có cạnh dài và cạnh ngắn là một tỷ số vàng. Không chỉ có các kiến trúc, hội hoạ áp dụng tỉ lệ vàng mà cơ thể con người, các bông hoa, sự sắp xếp cánh hoa, nhị hoa cũng có sự tồn tại của tỉ lệ vàng (tham khảo thêm tại đây).

[IMG]
Hình chữ nhật vàng

Bên cạnh đó, tỉ lệ vàng cũng có sự liên hệ với dãy số nguyên Fibonacci. Đây là một dãy số tự nhiên và vô hạn, bắt đầu từ số 0 với quy tắc số sau luôn bằng hai số trước cộng lại. Những số đầu trong dãy Fibonacci gồm: 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34... Lấy ví dụ số 8 bằng số 3 và 5 cộng lại hay số 34 bằng hai số 13 và 21 cộng lại...

Như vậy chúng ta đã hiểu tỉ lệ vàng quan trọng và độc đáo tới mức nào, đặc biệt là trong thiết kế. Apple là một trong số những hãng sản xuất ứng dụng tỉ lệ vàng vào thiết kế các sản phẩm của mình nhất. Người ta tìm thấy sự hiện diện của tỉ lệ vàng trong logo Apple, logo iCloud, thiết kế iPod, thiết kế iPhone và máy Mac... Đầu tiên hãy khám phá logo Apple, logo iCloud và sau đó là thiết kế iPhone 4/4S theo tỉ lệ vàng, hình chữ nhật vàng và dãy số nguyên Fibonacci.

1. Logo Apple

Ban đầu logo Apple là một hình chữ nhật được thiết kế với hình ảnh Newton ngồi dưới gốc cây táo nhưng sau đó Apple quyết định đổi logo nhận diện thương hiệu thành hình ảnh quả táo khuyết một miếng ở bên phải. Logo này được sử dụng từ những năm 1976 và hình dáng của nó không thay đổi từ khi đó tới bây giờ, dù màu sắc có khác.

Logo quả táo không phải được vẽ một cách ngẫu nhiên trên máy tính mà nó tuân theo hình chữ nhật vàng và dãy số nguyên Fibonacci. Hình chữ nhật được sử dụng để tạo nên kích thước và kiểu dáng của quả táo khuyến Apple có các hình vuông nhỏ bên trong được phân chia theo dãy số Fibonacci (hình dưới). Hình dáng của quả táo, các đường cong ở hai đầu của quả táo, "vết cắn" bên phải, lá của quả táo đều được tạo hình từ hình chữ nhật vàng với kích thước tuân thủ dãy Fibonacci.

[IMG]

Với các hình tròn trong thiết kế logo Apple, giả sử chúng có đường kính là các số trong dãy Fibonacci (hình trên) thì chiếc lá táo được tạo thành từ hai hình tròn với đường kính là 8. Vết cắn trên thân táo cũng tạo nên bởi một phần của hình tròn đường kính 8. Đường cong phía dưới đáy được tạo thành từ hai hình tròn 5, một hình tròn 8 và một hình tròn với đường kính là 1. Sự cân đối trong logo Apple có được cũng là do tỉ lệ vàng này.

2. Logo iCloud

[IMG]

iCloud là một dịch vụ đám mây mới được Apple giới thiệu và logo của dịch vụ này mô tả một đám mây bồng bềnh trôi. Hình dáng của đám mây đó nằm trong một hình chữ nhật vàng và các gợn mây được tạo nên bởi những hình tròn theo tỉ lệ 1,6 (tỉ lệ vàng). Nếu hình chữ nhật để tạo nên logo iCloud có tỉ lệ hai cạnh là 1:1,6 thì bốn hình tròn bên trong cũng theo tỉ lệ 1:1,6 này.

Không chỉ Apple mà logo của những thương hiệu nổi tiếng khác cũng được cho là sử dụng tỉ lệ vàng để thiết kế. Người ta còn nhìn thấy tỉ lệ vàng với các đường xoắn ốc trong biểu tượng của HĐH Mac OS X Lion (hình đầu con sử tử). Hãy quan sát và suy nghĩ với hình minh hoạ phía dưới.

[IMG]

3. Thiết kế iPhone 4/4S

Không chỉ có logo mà Apple còn được cho cũng sử dụng tỉ lệ vàng vào thiết kế phần cứng, hãy lấy ví dụ với iPhone 4. Hình dáng của iPhone 4 là một hình chữ nhật vàng với các chi tiết bên trong tuân theo quy luật này. Tỉ lệ vàng còn được tìm thấy ở việc sắp xếp vị trí jack tai nghe, ăng-ten sóng gần đó, micro phụ và cụm camera/đèn flash phía sau máy.

[IMG]

[IMG]

[IMG]

[IMG]
Thậm chí là cả bố cục trang web của Apple



Nguồn: Wikipedia (1), (2), Buzzfeed, Tin180, TYWKIWDBI, Stam-Design-Stam, Paul Martin Blog