Total Pageviews

Friday, January 18, 2013

Lái máy bay bằng ý nghĩ


Trực thăng đồ chơi được điều khiển bằng tín hiệu điện từ não có thể xuất hiện trên bầu trời trước ngày cuối cùng của năm 2012

Hệ thống giải mã tín hiệu điện trong não của Puzzlebox
Hệ thống giải mã tín hiệu điện trong não của Puzzlebox. Ảnh: Puzzlebox.
Puzzlebox - một công ty tại thành phố San Francisco, bang California, Mỹ - đang cố gắng biến ý tưởng điều khiển trực thăng bằng sóng não thành hiện thực. Orbit, tên của trực thăng do Puzzlebox chế tạo, được trang bị hệ thống "đọc" xung điện trong não, CNN đưa tin.
"Khi bạn tập trung tâm trí vào một việc gì đó, như giải phương trình toán hay học thuộc lời một bài hát, não của bạn tạo ra các tín hiệu điện. Hệ thống giải mã xung điện của Orbit theo dõi các tín hiệu ấy và biến chúng thành mệnh lệnh cho trực thăng", Steve Cattelotti, giám đốc điều hành Puzzlebox, phát biểu.
Hiện tại Orbit chỉ thực hiện được hai thao tác là bay lên và đáp xuống. Ảnh: Puzzlebox.
Hiện tại Orbit chỉ thực hiện được hai thao tác là bay lên và đáp xuống. Ảnh: Puzzlebox.
Mục tiêu của Puzzlebox là giúp khách hàng điều khiển trực thăng bay tự do trên trời. Nhưng hiện tại tín hiệu từ não chỉ có thể khiến trực thăng bay lên từ mặt đất.
"Orbit bay lên khi bạn tập trung suy nghĩ. Nếu bạn không tập trung tâm trí nữa, nó sẽ đáp xuống", Cattelotti giải thích.
Cattelotti khẳng định Orbit sẽ không chỉ là một thiết bị giải trí, mà còn giá trị về giáo dục. Chẳng hạn, nó có thể giúp học sinh nâng cao khả năng tập trung khi tư duy cũng như kỹ năng thư giãn.
"Tập trung tư tưởng là một nghệ thuật mà chúng ta đều cảm thấy khó làm chủ. Đối với hoạt động điều khiển một chiếc xe đạp, nếu bạn tập trung tư tưởng, số lần ngã của bạn sẽ giảm rõ rệt", Cattelotti lập luận.
Trạm điều khiển Puzzle Pyramid của Orbit. Ảnh: CNN.
Trạm điều khiển Puzzlebox Pyramid của Orbit. Ảnh: Puzzlebox.
Orbit sẽ xuất hiện trên thị trường với hai phiên bản. Một phiên bản, có thể sẽ xuất hiện trong dịp Giáng sinh năm nay, được thiết kế để người sử dụng điều khiển bằng các thiết bị di động như máy tính bảng hay điện thoại di động thông minh. Thiết bị kết nối với bộ đọc tín hiệu não và các cảm biến trong trực thăng qua sóng Bluetooth. Phiên bản thứ hai, sẽ được sản xuất trong năm 2013, bao gồm trực thăng, bộ đọc tín hiệu não và trạm điều khiển Puzzlebox Pyramid. Những đèn LED hồng ngoại của trạm sẽ gửi tín hiệu tới trực thăng. Ngoài ra người sử dụng có thể lập trình lại Puzzlebox Pyramid để nó điều khiển các thiết bị hồng ngoại khác.
"Chẳng hạn, bạn có thể lập trình lại Puzzlebox Pyramid để tăng, giảm âm lượng của tivi" Cattelotti nói.
[Nguồn: tinhte.vn]

Northrop Grumman thử nghiệm thiết bị điều khiển từ xa máy bay không người lái X-47B


x-47b-cdu-resized.JPG
X-47B trên đường băng

X-47B là một mẫu máy bay chiến đấu không người lái do công ty Northrop Grumman chế tạo thuộc khuông khổ chương trình các hệ thống chiến đấu trên không không người lái (UCAS-D). Tuy nhiên, để được đưa vào biên chế phục vụ cho hải quân Mỹ, "không người lái" chỉ là một trong số những tính năng được yêu cầu trên X-47B. Trước và sau mọi chuyến bay, X-47B cũng cần phải được bay thao diễn một cách an toàn xung quanh bãi đáp với mật độ máy bay dày đặt điển hình như hàng không mẫu hạm. Vì vậy, Northrop Grumman và hải quân Mỹ đã vừa thử nghiệm thành công một thiết bị cầm tay, giao tiếp không dây với X-47B và nó được phát triển chỉ để thực hiện nhiệm vụ nói trên.

Trong bài thử nghiệm đầu tiên diễn ra hồi đầu tháng nay tại trung tâm hàng không hải quân Patuxent River, bang Maryland, thiết bị cầm tay với tên gọi Control Display Unit (CDU) đã được sử dụng để điều khiển động cơ đẩy của X-47B thực hiện các thao tác trên không như bay tới, hãm tốc và dừng lại, đồng thời điều khiển bánh xe điều hướng trước mũi máy bay để thực hiện các thao tác di chuyển trên mặt đất một cách chính xác vào bệ phóng máy bay trên hàng không mẫu hạm hoặc tại một khu vực hạ cánh.

x-47b-cdu-2.jpg

Giống như những chiếc máy bay có người lái, trong nội dung thử nghiệm, X-47B cũng được dẫn đến đường băng mạn của tàu sân bay bởi một điều phối viên trên boong. Nhân viên này thường mặc áo vàng và đứng trước mũi máy bay để ra hiệu bằng tay. Tuy nhiên, X-47B không cần người lái nên điều phối viên sẽ đứng trước một nhân viên điều hành bay với vai trò phi công mặt đất. Người này sẽ dùng CDU điều khiển máy bay dựa trên chỉ thị của điều phối viên.

"Thay vì phải lai dắt máy bay vào đường băng, chúng tôi giờ đây có thể khởi động X-47B ngay từ bên ngoài nhà để máy bay và sử dụng CDU để định hướng cho máy bay vào đúng vị trí cất cánh hoặc bệ phóng," Daryl Martis, giám đốc thí nghiệm chương trình UCAS-D của Northrop Grumman cho biết. "Việc sử dụng CDU là cách thức tiết kiệm thời gian nhất để đưa X-47B vào bệ phóng hoặc tách nó ra khỏi dây móc trên đường băng sau khi hạ cánh."

Bài thử nghiệm đưa X-47B vào bệ phóng đầu tiên tại một căn cứ ven biển đã được lên lịch vào cuối tháng này và ngay sau đó, máy bay sẽ được đưa lên hàng không mẫu hạm để thử nghiệm hiệu năng của CDU trong môi trường hoạt động trên biển.

[Nguồn: tinhte.vn]

IBM sử dụng siêu máy tính mô phỏng não người


ibm_human_brain-resized.jpg

Bằng việc sử dụng siêu máy tính nhanh nhất thế giới và một kiến trúc máy tính siêu tiết kiệm điện năng mới, IBM đã mô phỏng thành công 530 tỉ nơ-ron và 100 nghìn tỉ khớp thần kinh - ngang bằng với con số của một bộ não người. Qua đó, IBM đã hoàn thành một bước tiến quan trọng trong tiến trình chế tạo một bộ não nhân tạo thật sự.

Điện toán nhận thức:

Não người không chỉ là vật thể phức tạp nhất từng được biết đến trong vũ trụ mà còn là một cỗ máy siêu tiết kiệm năng lượng. Nó có thể cùng một lúc thu thập hàng nghìn cảm nhận đầu vào, phiên dịch tất cả trong thời gian thực và phản ứng một cách hợp lý, trừu tượng hóa, học hỏi, lập kế hoạch và sáng tạo, tất cả chỉ dựa vào một nguồn điện giới hạn khoảng 20 W. Một máy tính với độ phức tạp có thể so sánh ngang bằng sử dụng các công nghệ hiện nay, theo IBM ước lượng, có thể tiêu thụ đến 100 MW điện.

Rõ ràng, mức tiêu thụ năng lượng như vậy rất không thực tế. Vấn đề này chính là nền tảng cho một bước tiến mới và câu trả lời của IBM là điện toán nhận thức (cognitive computing) - một quy tắc kết hợp giữa những phát hiện mới nhất trong lĩnh vực khoa học thần kinh, công nghệ nano và siêu máy tính.

Ngành khoa học thần kinh đã dạy cho chúng ta rằng sở dĩ não tiêu thụ ít điện năng là nhờ vào khả năng hoạt động "định hướng theo sự kiện". Nói một cách đơn giản, các nơ-ron, khớp thần kinh và sợi trục thần kinh chỉ tiêu thụ năng lượng khi chúng được kích hoạt và ngược lại. Các tác nhân kích hoạt ở đây có thể là một cảm nhận đầu vào hoặc từ các nơ-ron khác. Tuy nhiên, các máy tính ngày nay lại không hoạt động theo một phương thức tương tự và một lượng lớn năng lượng đã bị bỏ phí.

Các kĩ sư của IBM đã dựa trên kiến thức trên để xây dựng một kiến trúc máy tính mới và sau đó sử dụng để mô phỏng một lượng lớn các nơ-ron và khớp thần kinh có thể so sánh với những gì được tìm thấy trong bộ não con người. Kết quả không phải là một bộ não mô phỏng chính xác về chức năng hay đặc tính sinh học của não người bởi nó không thể cảm nhận, ý tưởng hóa hoặc suy nghĩ theo mọi cách thức thông thường nhưng đây vẫn là một bước tiến quan trong trọng việc tạo ra một cỗ máy có những năng lực như vậy trong tương lai.

Quy tắc hoạt động:

ibm_human_brain-0.png
Một mạng lưới các neurosynaptic cores suy ra từ cấu trúc liên kết thần kinh khoáng cách dài của não khỉ.

Điểm khởi đầu của các nhà nghiên cứu là CoCoMac - một cơ sở dữ liệu chi tiết về mạng lưới thần kinh của não khỉ. CoCoMac bao hàm toàn diện nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, sau 4 năm làm việc cật lực nhằm bổ sung những thiếu sót của cơ sở dữ liệu, các thành viên thuộc nhóm nghiên cứu cuối cùng cũng đã thu được một bộ dữ liệu có thể khai thác, nhằm dựa vào đó phát triển kiến trúc của bộ não nhân tạo.

Bên trọng hệ thống, có 2 thành phần chính là nơ-ron và khớp thần kinh. Nơ-ron là những trung tâm tính toán: mỗi nơ-ron có thể nhận các tín hiệu đầu vào từ tối đa 10 nghìn nơ-ron lân cận, chi tiết hóa dữ liệu và sau đó phát đi tín hiệu đầu ra. Có cấp xỉ 80% các nơ-ron đóng vai trò là bộ kích thích - nếu chúng phát đi một tín hiệu, chúng có khuynh hướng kích thích các nơ-ron lân cận. 20% còn lại là các nơ-ron ức chế - khi chúng phát đi một tín hiệu, chúng sẽ có khuynh hướng ức chế các nơ-ron lân cận.

Nếu như nơ-ron là các trung tâm tính toán thì khớp thần kinh sẽ có chức năng kết nối các nơ-ron khác nhau và đây chính là nơi bộ nhớ cũng như hoạt động học tập bắt đầu. Mỗi khớp thần kinh có một "giá trị mật độ" liên kết và giá trị sẽ thay đổi dựa trên số lượng tín hiệu được phát đi bởi các nơ-ron và di chuyển dọc theo khớp thần kinh. Khi một số lượng lớn các tín hiệu từ nơ-ron truyền đi trên cùng một khớp thần kinh, giá trị này sẽ tăng và bộ não ảo sẽ bắt đầu học tập theo cơ chế lắp ghép theo học thuyết của Donald Hebb.

Theo chu kỳ, thuật toán sẽ kiểm tra liệu mỗi nơ-ron có đang phát đi tín hiệu hay không: nếu có, các khớp thần kinh gần kề sẽ được thông báo và chúng sẽ cập nhật giá trị mật độ và tương tác phù hợp với các nơ-ron khác. Yếu tố cốt lõi ở đây là thuật toán sẽ chỉ sử dụng thời gian CPU trên phân số rất nhỏ của các khớp thần kinh cần được phát tín hiệu thay vì trên toàn bộ - qua đó tiết kiệm một lượng lớn thời gian và năng lượng.

Cũng giống như một bộ não hữu cơ, kiến trúc máy tính mới hoạt động theo định hướng sự kiện, mức độ phân bổ, nhận thức năng lượng cao và vượt qua một số giới hạn cố hữu theo cách mà các máy tính tiêu chuẩn được thiết kế, điển hình như tình trạng "thắt cổ chai" làm giới hạn tốc độ hệ thống do tốc độ thực thi của CPU nhanh hơn tốc độ truy xuất bộ nhớ của kiến trúc Von Neumann rất phổ biến trên máy tính PC ngày nay.

Mục tiêu cuối cùng của IBM là chế tạo một cỗ máy với độ phức tạp như não người trong một kích thước tương đương và với mức tiêu thụ năng lượng chỉ 1 kW. Hiện tại, siêu máy tính Blue Gene/Q Sequoia cũng sở hữu độ phức tạp có thể đáp ứng mục tiêu của IBM với 1.572.864 nhân xử lý, 1,5 PB (1,5 triệu GB) bộ nhớ và 6.291.456 mạch trình nhưng nó không được "gọn nhẹ" cho lắm và cũng không tiết kiệm năng lượng.

ibm_human_brain-1.png

Trong một nổ lực nhằm cắt giảm đáng kể mức tiêu thụ năng lượng, IBM cũng đã chế tạo một con chip tùy biến với tên gọi "neurosynaptic cores" - khai thác toàn bộ tiềm năng của kiến trúc máy tính mới và có thể thay thế các siêu máy tính trong hoạt động mô phỏng nói trên. Mặc dù các nhân được đặt tên là nơ-ron, khớp thần kinh (synapses) và sợi trục thần kinh (axons) nhưng thiết kế của các thành phần này lại không dựa trên ý tưởng sinh học mà thay vào đó, chúng được tối ưu với chi phí sản xuất tối thiểu và hiệu năng tối đa.

Ứng dụng:

ibm_human_brain-5.jpg
Kiến trúc mới hứa hẹn sẽ cải tiến các hệ thống dự báo thời tiết.

Do có đặt yếu tố song hành rất cao vào kiến trúc mới, những con chip được chế tạo bằng công nghệ trên sẽ rất phù hợp để giải đáp mọi vấn đề trong đó một lượng rất lớn dữ liệu cần được nạp vào máy tính với hiệu năng và mức tiêu thụ năng lượng được cải thiện đáng kể.

Qua thí nghiệm, IBM đã có thể hiểu rõ hơn về những giới hạn đối với kiến trúc máy tính tiêu chuẩn hiện tại, bao gồm việc cân bằng giữa bộ nhớ, tính toán và giao tiếp trên một tỉ lệ rất lớn. Thêm vào đó, thí nghiệm còn giúp thu thập những bí quyết để thiết kế và phát triển những con chip song hành có hiệu năng cao hơn và thậm chí tiết kiệm năng lượng hơn.

Những ứng dụng trong tương lai sẽ bao gồm các hệ thống dự báo thời tiết cải tiến, dự báo thị trường chứng khoán, các hệ thống giám sát bệnh nhân thông minh có thể thực hiện các chẩn đoán trong thời gian thực và các phần mềm nhận diện kí tự quang học (OCR)/nhận dạng giọng nói tương đương khả năng của con người.

Về mục tiêu tạo ra một bộ não nhân tạo thật sự, chúng ta vẫn còn rất nhiều năm nữa để có thể giải đáp mọi khúc mắc. Tuy nhiên, ít ra kiến trúc máy tính mới của IBM đã cho thấy quy trình này đang được thực hiện và với sự phát triển không ngừng nghỉ của công nghệ, hy vọng rằng ngày đó sẽ không còn quá xa vời.

[Nguồn: tinhte.vn]

Tìm hiểu về Lựu đạn


[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

 

Mục lục
  1. Tại sao gọi là “Lựu đạn”?
  2. Cấu tạo của Lựu đạn
  3. Lựu đạn hẹn giờ (Time-delay grenade)
  4. Lựu đạn va đập (Impact grenade)
  5. Một số loại lựu đạn khác

1. Tại sao gọi là "Lựu đạn"?
Lựu đạn là một hình thức của thuốc nổ được người Trung Quốc phát minh vào khoảng năm 1.000 sau Công Nguyên. Đến thế kỷ thứ 15, 16 thì người châu Âu cũng phát triển được các phiên bản tương tự như "lựu đạn" của người Trung Quốc.

Những loại lựu đạn này có chung một thiết kế đó là vỏ bằng kim loại, phần ruột rỗng và bên trong chứa thuốc súng. Để kích nổ nó, người ta chỉ cần châm ngòi sau đó ném lựu đạn đi, dây ngòi sau khi cháy hết, ngọn lửa sẽ bén vào trong thuốc súng và làm cho nó phát nổ. Do đó mà ngày xưa, người ta phải ném nó thật nhanh trước khi nó phát nổ, nếu không thì chính họ sẽ phải nổ tung cùng với thứ vũ khí chết người này. Vì vậy mà sang thế kỷ thứ 18, người ta không còn chuộng loại vũ khí này nữa do nó quá nguy hiểm. Tuy nhiên, từ đó về sau con người đã thực hiện rất nhiều cuộc "tiểu phẫu" khác nhau nhằm cải tiến lựu đạn cho nó an toàn hơn, thông minh hơn và cũng hoạt động hiệu quả hơn.

Từ "Lựu đạn" xuất phát từ từ “Pomegranate” trong tiếng Pháp, nghĩa là trái lựu. Hồi thế kỷ thứ 16, lính Pháp và một số lính châu Âu khác sử dụng những trái bom nhỏ, tròn tròn như quả lựu, bên trong nhét đầy thuốc súng giống như các hạt lựu trong quả lựu nên người ta mới gọi nó là “Lựu đạn”.

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Một quả lựu đạn cầm tay


2. Cấu tạo của Lựu đạn
Lựu đạn gồm có hai phần chính: vật liệu dễ cháy (thuốc súng, chất nổ)hệ thống đánh lửa (kíp nổ). Vật liệu dễ cháy có chức năng tạo ra vụ nổ còn hệ thống đánh lửa có chức năng kích cho vật liệu đó nổ. Ngoài thuốc súng ra, người ta có thể thay vào đó những loại vật liệu khác ví dụ như vật liệu tạo lửa (lựu đạn cháy, gây hiệu ứng cháy lan), tạo khói (lựu đạn khói, hơi cay) hoặc lựu đạn gây lóa mắt (Flashbang), khí độc...

Tương tự như vậy, kíp nổ cũng rất đa dạng, nhưng tựu chung lại thì ta có thể gom thành 2 loại chính đó là kíp nổ hẹn giờ và kíp nổ va đập/tiếp xúc. Cả hai đều có chung một mục đích là kích nổ lựu đạn nhưng cách hoạt động thì khác nhau.

Kíp nổ hẹn giờ, y như tên gọi của nó, là loại kíp nổ sau một khoảng thời gian nhất định, ví dụ như 4 giây, 7 giây... nó sẽ đánh lửa làm cho lựu đạn phát nổ. Còn loại kíp nổ va đập thì khi có va đập (rơi xuống đất) hay có người đạp lên nó thì lập tức lựu đạn sẽ phát nổ ngay, đúng kiểu "đạp phát chết luôn". Loại lựu đạn này có thể không sử dụng thuốc súng mà dùng vật liệu dạng lỏng, ví dụ như chất NitroGlycerine hay một số chất khác có khả năng đốt cháy khi chịu sự va đập hoặc cọ xát. Do đó bản thân chất lỏng này cũng là một kíp nổ.

Một ví dụ rất dễ hiểu dành cho loại lựu đạn va đập này đó là loại "lựu đạn chai" (Molotov cocktail) mà ta thường thấy trên phim hay TV. Lựu đạn Molotov thường dùng một cái lọ hoặc chai nước rỗng, bên trong chứa xăng hoặc chất lỏng dễ cháy, miệng chai được bịt kín bằng một miếng vải và cho một phần miếng vải này lòi ra ngoài miệng chai. Khi ta đốt miếng vải lòi ra ngoài và quăng nó đi, lựu đạn rơi xuống đất làm cho chai bị vỡ, chất lỏng rơi ra, chạm vào ngọn lửa ở miệng chai và bốc cháy.

Tuy nhiên, cả hai loại lựu đạn này đều không an toàn, chúng rất dễ nổ trước khi ta kịp "cao chạy xa bay" nên chúng không còn thông dụng, đặc biệt là khi dùng trong quân sự.

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

"Lựu đạn" Molotov


3. Lựu đạn hẹn giờ (Time-delay grenade)
Loại lựu đạn thông dụng nhất trên chiến trường hiện nay có cái tên khá dài, tạm dịch là "Lựu đạn cầm tay hẹn giờ phá mảnh gây sát thương" (time-delay fragmentation anti-personnel hand grenade), có chức năng tiêu diệt hoặc gây sát thương cho quân thù. Loại lựu đạn này rất phổ biến trong thế chiến thứ nhất và thứ hai. Nó bền, dễ sử dụng và dễ sản xuất, được thiết kế để khi nổ sẽ phóng ra hàng loạt các mảnh kim loại theo tứ phía, gây sát thương cho những ai đứng gần. Đó là lý do tại sao lớp vỏ của lựu đạn thường có nhiều rãnh để dễ phá mảnh khi nổ.

Thông thường, loại LĐ này sử dụng cơ chế hẹn giờ hóa học (chemical delay mechanism). Bạn có thể xem hình minh họa cơ chế làm việc của nó ngay dưới đây.

Vỏ lựu đạn làm bằng hợp kim gang, bên trong có hệ thống đánh lửa và kíp nổ hẹn giờ để gây nổ lựu đạn. Nó hoạt động như sau: Bình thường chốt an toàn có nhiệm vụ giữ mỏ vịt, không cho mỏ vịt bật lên, đầu mỏ vịt luôn giữ đuôi kim hỏa, kim hỏa ép lò xo lại. Khi rút chốt an toàn ra, mỏ vịt không bị giữ nữa nên nó sẽ rời ra, đầu mỏ vịt rời khỏi đuôi kim hỏa, lò xo bung ra, đẩy kim hỏa đập vào mũ đánh lửa, lửa đốt cháy dây dẫn hóa học, khi cháy hết nó sẽ phụt lửa vào kíp nổ, gây nổ LĐ.

Mặc dù loại lựu đạn này khá hữu dụng nhưng nó cũng có một số nhược điểm nhất định. Trong đó nhược điểm thường thấy nhất đó chính là tính khó lường trước của nó. Tùy vào loại hóa chất dùng làm dây dẫn cháy chậm mà thời gian phát nổ có thể dao động từ 2-6 giây và điều này tạo cho kẻ địch có cơ hội phản công. Nếu người ném lựu đạn không tính toán đúng thời gian ném và phát nổ, kẻ địch có thể nhặt lựu đạn trước khi nó nổ và ném ngược lại, gây nguy hiểm cho bên mình. Do đó, người ta mới phát minh ra một loại lựu đạn khác là lựu đạn va đập, tức nó sẽ phát nổ ngay khi rơi xuống đất hay chạm mạnh vào một vật gì đó.



4. Lựu đạn va đập (Impact grenade)
Lựu đạn va đập hoạt động giống như những quả bom ném xuống từ máy bay, khi chạm đất thì chúng sẽ phát nổ ngay lập tức. Thông thường người ta không dùng tay để ném chúng mà dùng một loại vũ khí gọi là súng phóng lựu (Granade launcher) để phóng quả lựu đạn đi ở tốc độ cao.

Súng phóng lựu có hình ống, thường được gắn kèm bên dưới các khẩu súng trường như bạn thấy ở hình dưới đây. Chúng sẽ phóng lựu đạn đi bằng khí gas nén khi người cầm súng bóp cò, một số loại súng phóng lựu thậm chí còn có cả kíp nổ riêng và hệ thống phóng tích hợp sẵn bên trong. Một loại súng phóng lựu khác "bình dân" hơn mà ta hay thấy đó là súng phóng lựu xách vai (RPG, Rocket-Propelled Granade Launcher). Loại này ta thường thấy nhất trên chiến trường Afghanistan và chúng cũng có hệ thống phóng tích hợp riêng bên trong.

Vì loại lựu đạn này dễ phát nổ khi va đập nên bình thường người ta phải khóa nó lại, nếu không thì sẽ rất nguy hiểm, nó sẽ được mở khóa khi bắn ra khỏi nòng súng. Cơ chế mở khóa của nó là tự động, nghĩa là ta không có cái công tắc nào để mở khóa chúng cả mà nó sẽ tự mở như sau: Khóa sẽ tự động được mở khi bị một lực đẩy đẩy ra khỏi nòng súng, hay nhờ vào vận tốc bay, sự xoay vòng của lựu đạn khi bay ra khỏi nòng súng cũng có thể mở khóa được chúng trước khi va chạm vào mục tiêu và phát nổ.

Lựu đạn va đập có hình dáng thiết kế theo kiểu khí động học, nhìn hình miêu tả bạn sẽ thấy nó có 3 phần: phần đầu (kíp nổ va đập), phần thân và hai cái vây (cánh). Cấu tạo bên trong của nó có nhiều điểm giống với loại lựu đạn hẹn giờ, nhưng do cách hoạt động khác nhau nên cơ chế kích nổ của nó cũng có phần khác nhau.

Cách hoạt động của nó như sau:
Bình thường khi còn nằm trong họng súng, lựu đạn sẽ ở trạng thái khóa. Kíp nổ của nó nằm ở phần đuôi (màu đỏ, xem hình minh họa), bên dưới kíp nổ là một lò xo nhưng lúc này đang bị nén lại và giữ chặt bời hai cái ghim trọng lực. Hai cái ghim này giữ không cho lò xo đẩy kíp nổ lên phía trước, mục đích là để cho búa gõ không gõ tới được.

Khi ta khai hỏa, lựu đạn bay ra khỏi nòng, vừa bay và vừa xoay vòng. Chính hình dáng và vị trí của hai cái vây hai bên và những cái rãnh bên trong họng súng giúp cho lựu đạn có thể xoay vòng trong không trung. Mục đích của việc xoay vòng này là nó sẽ tạo ra một lực ly tâm, để khi bay ra đủ xa, lực ly tâm sẽ làm cho hai cái ghim trọng lực bị bật ra. Lúc này lò xo bên dưới kíp nổ không còn bị giữ chặt nữa nên nó sẽ bung lên và đẩy kíp nổ về phía trước, hướng về phía búa gõ. Chính lúc này đây, lựu đạn đã chuyển sang trạng thái mở và sẽ phát nổ khi búa gõ đập vào kíp nổ.
Trong khi lựu đạn còn bay trên không, chưa rơi xuống thì búa gõ sẽ chưa thể đập vào kíp nổ được, bởi vì nối giữa phần đầu và phần thân lựu đạn là hai cái lò xo làm cho chúng bị tách nhau ra. Khi lựu đạn rơi xuống đất hoặc chạm mạnh vào một vật thể nào đó làm cho phần đầu bị tác động một lực đủ mạnh, khiến cho nó bị thụt vào, hai cái lò xo bị nén lại và búa gõ sẽ đập vào kíp nổ, kết quả là lựu đạn phát nổ.


[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

M-203 và đạn của nó

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

M-203 được gắn kèm bên dưới khẩu súng trường Carbin M4
[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Súng phóng lựu vác vai RPG-7

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Trên đây là cách hoạt động cơ bản nhất của 2 loại lựu đạn hẹn giờ và va đập. Hiện nay người ta đã phát triển chúng lên một tầm cao mới. Vẫn sử dụng nguyên tắc hoạt động đó nhưng cơ chế kích nổ sẽ khác đi, thay vì dùng dây dẫn hóa học hẹn giờ hoặc cơ học để kích nổ lựu đạn thì người ta thay thế nó bằng một hệ thống kích nổ điện tử. Ví dụ như trong loại lựu đạn hẹn giờ, họ sẽ gắn vào đó một cái đồng hồ điện tử và búa gõ hoạt động bằng điện. Khi tháo chốt an toàn ra thì đồng hồ sẽ bắt đầu đếm ngược một khoảng thời gian định trước, sau khi đếm xong thì búa gõ sẽ rớt xuống và lựu đạn phát nổ. Bằng cách đó, lựu đạn hẹn giờ có thể "đếm" chính xác thời gian phát nổ hơn là loại sử dụng cơ chế dây dẫn trình bày ở trên.

Ngoài ra, một số loại súng phóng lựu hiện đại sử dụng hệ thống kích nổ điện tử còn có thể bắn liên thanh chứ không phải bắn phóng từng viên như trước đây. Mỗi quả lựu đạn sẽ được làm nhỏ lại, có kích thước cỡ một viên đạn truyền thống, bên trong có chứa các cảm biến vị trí bằng điện tử. Lúc này người lính có thể bắn liên tục như súng trường và mỗi viên đạn khi chạm vào mục tiêu sẽ phát nổ chứ không chỉ đâm xuyên như các viên đạn thông thường. Tuy nhiên do kích thước của mỗi viên đạn/lựu đạn khá nhỏ, chứa ít chất nổ nên phạm vi phát nổ của nó không lớn bằng các quả lựu đạn cầm tay, nhưng với tốc độ bắn phá liên tục thì đây lại là một thứ vũ khí nguy hiểm có sức công phá rất cao.

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Súng máy Mark 19 Mod 3 (MK19) với mỗi viên đạn là một quả lựu đạn nhỏ

Thậm chí vào năm ngoái, quân đội Mỹ còn cho phát triển một loại súng có khả năng điều khiển được thời gian phát nổ của từng viên đạn bắn ra. Loại súng đó có tên là XM25, có khả năng tự động đo khoảng cách từ người lính tới mục tiêu và nhập số liệu đó vào con chip có trong viên đạn. Để khi bắn ra, viên đạn sẽ tự động đo khoảng cách đường bay của nó, khi bay hết quãng đường đã nhập, nó sẽ tự động phát nổ và gây sát thương cho mọi thứ xung quanh. XM25 được xem là thứ vũ khí cực kỳ lợi hại và nguy hiểm dùng để đối phó với những tay súng núp sau những bức tường hay chướng ngại vật mà ta khó bắn trúng được. Giá của mỗi cây XM25 có giá khoảng 25.000$ và mỗi viên đạn có giá 25$.

Một số loại lựu đạn khác
Trên đây là loại lựu đạn sát thương, ngoài chúng ra ta còn có nhiều loại lựu đạn khác với nhiều chức năng khác nhau, ví dụ như lựu đạn cháy, lựu đạn khói, lựu đạn hơi cay hay lựu đạn gây choáng. Quân đội thường sử dụng lựu đạn nổ để gây sát thương, cảnh sát dùng lựu đạn hơi cay để trấn áp đám đông, tội phạm, lựu đạn khói dùng để tung hỏa mù hoặc làm tín hiệu còn lựu đạn cháy thường được dùng để phá hủy nhanh những thứ cần tiêu hủy ví dụ như tài liệu, xe cộ, quân trang...

5. Lựu đạn khói
Lựu đạn khói thường được dùng để làm tín hiệu giữa các nhóm người trên mặt đất (trong rừng rậm, núi cao...), giữa mặt đất với máy bay (ra tín hiệu hạ cánh, phát tín hiệu cấp cứu...) hoặc cũng có thể dùng để "tung hỏa mù" che mất tầm nhìn của đối phương để quân ta dễ dàng thoát khỏi vòng vây. Chúng có hình dạng ống, thon dài, vỏ bằng kim loại, bên trên và dưới đều có nhiều lỗ để thải khói ra ngoài.

Có hai loại lựu đạn khói: một loại khói màu (để ra tín hiệu) và một loại khói mù (để hạn chế tầm nhìn). Lựu đạn khói màu chứa từ 250-350 gram hợp chất khói có màu sắc (thường là hợp chất Kali Clorat, đường Lactose và chất nhuộm). Còn khói mù sử dụng hợp chất khói HC (HexaChloroEthane/Kẽm) hoặc TA (Terephthalic Acid). Khói HC rất có hại khi ta hít phải vì nó chứa chất Axít Clohiđric, ngoài ra loại lựu đạn này còn có thể tạo nhiệt nhiều đến nỗi có thể làm bỏng hoặc cháy da.
[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Lựu đạn khói M18 và cấu tạo bên trong của nó

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Lựu đạn khói màu tím khi phát nổ


6. Lựu đạn hơi cay
Dùng để dẹp loạn hay giải tán đám đông. Nó có hình dạng giống như lựu đạn khói, bên trong chứa từ 80-120 gram khí gas CS (viết tắt của 2-chlorobenzalmalononitrile) và trộn với một hợp chất pháo hoa (Pyrotechnic) để tạo ra một làn khói chứa đầy các khí CS. Nếu hít phải loại khí này sẽ làm cho mắt rất cay và rát.

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Lựu đạn cay M7A2 và M7A3 cùng cấu tạo bên trong

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Lựu đạn cay thường được sử dụng để giải tán đám đông


7. Lựu đạn cháy
Lựu đạn cháy có chức năng dùng phản ứng hóa học để tạo ra thật nhiều nhiệt và gây cháy. Mục đích là để tiêu hủy nhanh nhiều thứ vật dụng trong thời gian ngắn ví dụ như tài liệu, hồ sơ mật, quân trang, các loại khí tài... Chúng cũng có hình dạng như lựu đạn khói, bên trong chứ từ 600-800 gram chất Thermate (là loại chất nâng cao của chất nhiệt nhôm - Thermite). Khi phát nổ, một phản ứng nhiệt nhôm sẽ xảy ra, trong đó các hạt nhôm dạng bột và Oxít Sắt sẽ phản ứng với nhau để nung chảy Sắt và Oxít Nhôm. Phản ứng này sẽ tạo ra một lượng nhiệt vô cùng lớn, lên đến 2.200 độ C và đủ sức phá hủy nhiều loại đồ vật khác nhau.

Do phản ứng sinh nhiệt này không cần khí Oxy nên nó có thể "cháy" cả khi ở dưới nước. Đây cũng là loại lựu đạn có thời gian phát nổ khá nhanh, chỉ khoảng 2 giây. Bên cạnh đó người ta còn có thể dùng chất Phốt-pho trắng để thay thế chất Thermite. Loại lựu đạn dùng Phốt-pho trắng có thể tạo ra lượng nhiệt đến 2.800 độ C và rất độc. Chỉ cần 50-100 miligram Phốt-pho trắng là có thể giết chết một người trung bình.

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Lựu đạn cháy AN-M14 và cấu tạo của nó

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Lựu đạn cháy hay Molotov có thể gây ra các vụ cháy rất dữ dội


8. Lựu đạn gây lóa (Flashbang)
Lựu đạn gây lóa mắt được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như Stun grenade, Flash grenade hay Flashbang. Đây là loại lựu đạn không gây nguy hiểm đến tính mạng mà chỉ được dùng để làm tê liệt các giác quan của đối phương trong một khoảng thời gian ngắn. Khi kích nổ Flashbang, những người gần đó sẽ rơi vào tình trạng bị lóa mắt, mọi thứ đều trở nên trắng toát đồng thời họ cũng không thể nghe thấy gì cả.

Nguyên tắc hoạt động của Flashbang đó là khi kích nổ, nó sẽ phát ra những luồng ánh sáng cực mạnh có tác dụng kích thích mọi tế bào nhạy sáng trong mắt con người, làm cho họ tạm thời bị lóa mắt trong khoảng 5 giây, trước khi các tế bào mắt trở về trạng thái bình thường lúc chưa bị kích thích. Ngoài ra, âm thanh phát ra khi Flashbang nổ còn có thể làm xáo trộn chất dịch ngoại bên trong lỗ tai làm cho họ không thể nghe thấy gì.

Bên trong loại lựu đạn này có chứa khoảng 4,5 gram hỗn hợp chất oxy hóa kim loại pháo hoa bao gồm Magie hoặc Nhôm và một chất oxy hóa khác như Amoni Perchlorate hoặc Kali Perchlorate. Chúng không bị phân mảnh khi nổ mà vẫn còn nguyên xi. Trên thân của nó có nhiều lỗ để ánh sáng và âm thanh có thể thoát ra ngoài khi nổ. Tuy nó không phát nổ như loại lựu đạn sát thương nhưng sức nóng tỏa ra của nó có thể làm cháy các vật liệu dễ cháy xung quanh ví dụ như xăng.

[?] Tập 5: Quân sự - Lựu đạn hoạt động như thế nào?

Lựu đạn Flashbang M84
[Nguồn: tinhte.vn]

Lí giải ảo giác điện thoại rung nhưng lại không rung


Đã bao giờ bạn gặp phải trường hợp “dở khóc dở cười” khi mong chờ một cuộc điện thoại và bất chợt, bạn cảm thấy chiếc điện thoại trong túi mình đang rung lên. Bạn nhanh chóng cho tay vào túi, rút điện thoại ra và rồi tất cả những gì bạn nhận được là cái màn hình đen ngòm như đang “trêu ngươi” chủ nhân chúng?

Nếu bạn trả lời "Có", điều đó nghĩa là bạn đã trải nghiệm hiện tượng độc đáo được các nhà khoa học gọi là “giác quan ảo giác”.


Năm 2010, nhà nghiên cứu Michael Rothberg tại Trung tâm Y tế Baystate ở Springfield, Massachusetts (Mỹ) đã phát hiện ra hiện tượng tương tự xảy ra với các nhân viên tại đây. Theo thống kê, có đến 70% nhân viên từng trải qua việc cảm giác chiếc điện thoại đang rung đánh lừa, một số thậm chí còn phải đối diện với hiện tượng này hàng ngày.

Michael Rothberg đã tìm ra nguyên nhân và giải thích trên tạp chí ScienceLine rằng, về cơ bản, những ảo giác đó tồn tại trong nhận thức của con người, có thể được khơi dậy do một tổn thương nhỏ ở não bộ khi phải điều tiết và phân loại quá nhiều các sự kiện xảy ra bên ngoài. Từng phút từng giây, não bộ sẽ thu nhận thông tin từ các “cảm biến” trên cơ thể bạn như mắt, mũi, da… Đến một lúc nào đó, não sẽ bị quá tải bởi khối lượng thông tin nhận được, dẫn đến không thể xử lý tất cả. Khi điều này xảy ra, thông tin não thu được từ “cảm biến” sẽ được phân loại lại một lần nữa. Đó cũng là nguyên nhân chúng tác động đến hoạt động của chúng ta theo cách không như mong đợi.




Trở lại trường hợp chiếc điện thoại, do quá mong ngóng tin nhắn, cuộc gọi nào đó mà ta vô tình khiến não "choáng ngợp" về lượng thông tin liên quan đến việc này. Từ đó, khi quá tải thông tin về đồ vật này, não sẽ tạo ra ảo giác, khiến chúng ta cảm thấy như chiếc điện thoại đang rung thật.

Hiện tượng này thực chất không hề mới, có thể xảy ra với bất kỳ ai trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Ví dụ, bạn đang có một chuyến đi cắm trại nhưng bạn lại rất sợ rắn. Tâm trí bạn luôn lo lắng về điều đó. Đừng ngạc nhiên khi suốt chuyến đi, bạn liên tục giật bắn mình vì tưởng rằng mình chạm phải một con rắn trong khi đó chỉ là một cành cây khô.

Trường hợp xảy ra với chiếc điện thoại thì càng phổ biến hơn. Với những người luôn bận rộn hay thường xuyên liên lạc qua chiếc điện thoại di động, não bộ của họ sẽ thường xuyên hiểu sai ý nghĩa của những loại thông tin như sự cọ xát của quần áo vào cơ thể hay tiếng dạ dày đang “reo” lên vì đói. Tất cả những điều đó đều trở thành ảo giác chiếc điện thoại rung lên.



Tuy được gọi là một “tổn thương ở não” nhưng bạn không phải quá lo sợ vì điều đó. Ngoại trừ sự thật là có đến 70% những người xung quanh bạn cũng đang gặp phải ảo giác như vậy, đó còn có thể xem là một dạng “sai số” chấp nhận được từ những nhận định của não bộ chúng ta như bất kỳ loại sai số nào khác xảy ra trong các phép tính phức tạp.
[Nguồn: tinhte.vn]

Tìm hiểu về cấu tạo kính viễn vọng không gian Hubble



Hubble là một chiếc kính viễn vọng không gian khá nổi tiếng của NASA, nó được nghiên cứu từ tận những năm 1970 và phóng lên vũ trụ năm 1990, bay trên quỹ đạo cách Trái Đất 610 km. Hệ thống ống kính quang học bên trong Hubble có khả năng thu nhận ánh sáng từ các ngôi sao hoặc vật thể cách xa chúng ta đến 12 tỷ năm ánh sáng, có nghĩa là nó giúp chúng ta nhìn thấy quá khứ của vũ trụ cách đây đến 12 tỷ năm. Mỗi ngày, Hubble gửi về Trái Đất từ 5-10 GB dữ liệu. Dự kiến đến năm 2014, Hubble sẽ ngừng hoạt động và được thay thế bởi một chiếc kính thiên văn vũ trụ lớn hơn, đó là James Webb.
Xem bản gốc bằng tiếng Anh
Hình ảnh thật của Hubble ngoài không gian
[Nguồn: tinhte.vn]

Tìm hiểu về thương hiệu siêu xe Lamborghini



Nếu như được hỏi "Bạn thích siêu xe nào nhất?", chắc hẳn nhiều người sẽ nghĩ ngay đến cái tên Ferrari, thương hiệu lâu đời và rất nổi tiếng của Ý. Tuy nhiên, đối với cá nhân mình, hình ảnh con ngựa đỏ của F430 hay F599 không để lại nhiều ấn tượng bằng những chú bò tót vàng dũng mãnh. Vâng, mình đang nói đến hãng siêu xe Lamborghini.! Ferrari có thể có những chiếc xe rất đẹp, nhưng với mình Lamborghini mới chính thương hiệu siêu xe số 1 thế giới.

Giai thoại về sự ra đời của hãng xe Lamborghini


Lamborghini có tên đầy đủ là Automobili Lamborghini S.p.A. (ALSpA), là thương hiệu xe Italia do Ferruccio Lamborghini lập ra vào năm 1963. Ferruccio Lamborghini thời bấy giờ vốn là một triệu phú trong ngành công nghiệp sản xuất đầu máy kéo tại Ý. Ông bắt đầu sự nghiệp tại một gara nhỏ, nhưng sau đó nhanh chóng mở rộng hoạt động kinh doanh do nhu cầu về đầu máy kéo tăng nhanh. Bên cạnh máy kéo, Ferruccio còn sản xuất đèn đốt tinh dầu và hệ thống điều hòa, và những lĩnh vực này cũng đem về cho ông rất nhiều lợi nhuận.

Trở thành một trong những người giàu có nhất nước Ý, Ferruccio có thể mua cho mình hầu như tất cả những gì ông muốn, bao gồm cả những chiếc siêu xe thời bấy giờ như Mercedes SL300 hay Ferrari và Jaguar. Tuy nhiên, chiếc Ferrari của ông bắt đầu gặp những vấn đề về bộ ly hợp, và vì không thể sửa nó ở những cửa tiệm địa phương, Ferruccio quyết định đến gặp thẳng Enzo Ferrari để khiếu nại. Enzo, với bản tính kiêu hãnh vốn có, đã đuổi "lão nông dân" này về đi. Ferruccio giận lắm, và vào lúc đó ông đã quyết định sẽ cho Enzo Ferrari thấy một chiếc siêu xe thực thụ là như thế nào.

Trên đây là giai thoại về nguyên nhân hình thành thương hiệu Lamborghini. Thực tế có thể khác đôi chút, nhưng rõ ràng vào thời điểm ấy, Ferruccio đang rủng rỉng tiền bạc, và thị trường siêu xe còn rất mới mẻ. Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi để ông thành lập một hãng xe riêng, chuyên sản xuất những sản phẩm không chỉ có tốc độ nhanh mà còn sở hữu những kiểu dáng độc đáo.



"Siêu xe" khởi nguồn cho thương hiệu Lamborghini

Quá trình thành lập Automobili Lamborghini S.p.A.

Ferruccio thành lập Automobili Lamborghini S.p.A. trên một khuôn viên rộng 90.000 mét vuông gần thành phố Bologna. Toàn bộ nhà máy được xây dựng xong chỉ sau 8 tháng, và là một kiến trúc rất hiện đại thời bấy giờ với nhiều khoảng không gian mở và vật liệu kính ở khắp mọi nơi. Ông đã phải bỏ ra số tiền 500 triệu Lire để biến giấc mơ của mình thành hiện thực.

Yếu tố quyết định của một nhà máy sản xuất ô tô không phải là máy móc, mà là con người. Do đó Ferruccio bắt đầu tuyển mộ những nhân sự giỏi nhất trong ngành, như Giotto Bizzarrini - sau khi ông này rời bỏ Ferrari, để thiết kế và sản xuất một chiếc xe V-12 cho Lamborghini. Không lâu sau đó, một động cơ đã được chế tạo xong, với 400 mã lực tại tốc độ quay 11.000 vòng/phút. Tuy nhiên, điều Ferruccio mong muốn không phải là một chiếc xe đua đơn thuần, mà là một chiếc xe thể thao hiệu suất cao (Grand Touring), nên động cơ đó đã được giảm xuống ở mức 280 mã lực tại 7.000 vòng/phút. Giotto cảm thấy không phù hợp với yêu cầu của Ferruccio nên đã sớm ra đi trước khi quá trình thử nghiệm hoàn tất.

Mất Giotto, Ferruccio tuyển mộ được thêm 2 nhân vật nữa cho đội ngũ kỹ thuật của mình là Giampaolo Dallara và Giampaolo Stanzani. Bên cạnh đó, ông còn mời được Bob Wallace, một tay lái lão luyện người New Zealand, giữ chức trưởng nhóm lái thử nghiệm. Có trong tay những cộng sự đắc lực như thế, bản mẫu chiếc Lamborghini 350 GTV lần đầu tiên được giới thiệu đến công chúng tại Triển lãm xe Turin năm 1963. Tương lai của ALSpA rất tươi sáng trong những năm 60 của thế kỷ trước, với 350 GTV và 2 mẫu xe tiếp theo là 400 GT và 400 GT 2+2 đã góp phần giúp thương hiệu Lamborghini được biết đến trên toàn thế giới. Tuy nhiên, tên tuổi của Lamborghini chỉ thật sự trở thành huyền thoại, và là ước mơ của nhiều người kể từ khi sản phẩm Lamborghini Miura được trình làng.

Những thăng trầm của một thương hiệu siêu xe

Lamborghini có một khởi đầu rất suôn sẻ, với nhà sáng lập Ferruccio lắm tiền nhiều của lại đầy đam mê, và một đội ngũ công sự đầy tài năng. Trong những năm đầu của thập kỷ 70, ALSpA tập trung sản xuất dòng Miura nổi tiếng, và đã xuất xưởng được 400 chiếc. Đây là mẫu xe đã đem lại dòng lợi nhuận đầu tiên cho Lamborghini sau 10 năm đầu tư, và nó cũng rất được khách hàng tiềm năng quan tâm. Tuy nhiên, tình hình bắt đầu chuyển biến xấu khi mảng kinh doanh đầu máy kéo của Ferruccio gặp khó khăn, và ông buộc phải bán một phần công ty ALSpA cho một nhà công nghiệp người Thụy Sĩ tên Georges-Henri Rosetti. Mặc dù Ferruccio đã khẳng định ông sẽ vẫn tiếp tục điều hành công ty, nhưng cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã khiến ông kiệt quệ và không lâu sau đó, Ferruccio bán nốt 49% cổ phiếu của công ty cho một người Thụy Sĩ khác là Rene Leimer.

Kể từ lúc này, Lamborghini chính thức không còn liên quan gì đến người sáng lập Ferruccio nữa. Một điều rất may là 2 vị chủ mới, Georges-Henri và Rene quyết định vẫn giữ tên gọi của hãng là Lamborghini. Mặc dù vậy, những người chủ mới vẫn không thể lấy lại ánh hào quang ngày nào cho thương hiệu siêu xe của Ý. Countach, mẫu xe bán khá chạy trong giai đoạn này, vẫn không thể tạo ra dòng tiền đủ để hãng chi trả chi phí nguyên vật liệu. Vì lý do đó, nhiều khách hàng đã phải đợi đến 2 năm mới được giao xe.

Tia sáng hi vọng đến với ALSpA khi hãng giành được hợp đồng sản xuất dòng xe M1 cho BMW. Tuy nhiên, thay vì bắt tay vào sản xuất theo hợp đồng, Lamborghini lại dùng nguồn tiền do BMW cấp để phát triển mẫu Cheetah cho riêng mình. Không lâu sau đó, BMW đã cắt hợp đồng sản xuất M1 với Lamborghini. Hãng xe Italia lâm vào nguy cơ phá sản.

Những năm cuối của thập kỷ 70 chứng kiến một sự lao đao của Lamborghini khi bi tuyên bố phá sản bởi tòa án Italia. Hãng siêu xe trở rơi vào tình trạng "bơ vơ" vì quá trình mua lại công ty gặp nhiều trục trặc. Tình hình chỉ bắt đầu khá hơn từ năm tháng 7/1980, khi hai anh em Mimran người Thụy Sĩ nhảy vào cuộc. Họ mua lại Lamborghini vào năm 1984 với giá khoảng 3 triệu USD và hãng xe được đổi tên thành Nuova Automobili Ferruccio Lamborghini S.p.A. (NAFLSpA). Một số mẫu xe phát triển dưới thời nhà Mimran gồm có Countach, Cheetah và Jalpa.

NAFLSpA bắt đầu làm ăn có lãi trở lại thì đùng một cái, vào tháng 4 năm 1987, chủ tịch tập đoàn Crysler là Lee Iacocca tuyên bố ông đã mua lại công ty Sant'Agata của Patrick Mimran. Crysler đổi tên hãng xe trở lại cái tên cũ, đồng thời giữ nguyên bộ khung nhân sự. Hoạt động dưới sự điều hành của ông chủ Mỹ trong khoảng 5 - 7 năm, Lamborghini tiếp tục bị bán đi vì Crysler nhận ra rằng lối kinh doanh của Lamborghini vẫn là nhỏ lẻ và không phù hợp với phong cách của một hãng lớn như Crysler.

Trong tay các ông chủ mới đến từ vùng viễn đông, nhân sự của Lamborghini có nhiều thay đổi. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự ra đời của dòng xe Diablo VT Roadster, một sản phẩm rất thành công tại thị trường Mỹ. Tuy nhiên, niềm vui chẳng tày gang, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á cuối những năm 90 đã khiến cho những ông chủ Indonesia lâm vào khó khăn. Lamborghini cố gắng bấu víu vào cái bóng của Diablo nhưng vô ích. Giám đốc điều hành của hãng là Di Capua bắt đầu tiến hành các cuộc thương lượng hợp tác với tập đoàn Audi AG để sử dụng động cơ của hãng trên sản phẩm của Audi.

Bất ngờ xảy đến vào năm 1998 khi Ferdinand Piëch, một quan chức cấp cao của Audi AG, tuyên bố muốn mua lại ALSpA. Di Capua thuyết phục các ông chủ Indo đồng ý bán Lamborghini cho Audi AG, và đến ngày 27/8/1998, Audi AG chính thức trở thành chủ nhân duy nhất của hãng siêu xe Ý. Tập đoàn của Đức đã đầu tư khá nhiều tiền của cũng như nhân sự cấp cao vào Lamborghini, để đưa hãng xe từ chỗ bết bát trở lại vị trí đáng tự hào như ngày hôm nay. Những mẫu xe nổi tiếng như Gallardo, Murciélago hay Reventón đều được sáng tạo ra dưới thời của Audi AG.

Một số mẫu xe nổi tiếng của Lamborghini

1. Lamborghini Miura (1966 - 1974)
Khi Lamborghini giới thiệu chiếc 350GT vào năm 1964, khách hàng ngay lập tức bị hấp dẫn và 350GT gặt hái nhiều thành công. Tuy nhiên, Ferruccio quả quyết rằng ông còn có thể làm tốt hơn thế. Ông muốn có một chiếc xe với thiết kế và công nghệ hoàn hảo, một chiếc xe gây ấn tượng mạnh và gợi lên sự đam mê. Và kết quả là Miura ra đời.

Miura là tên một trại súc vật ở Tây Ban Nha, nơi có những chú bò tót nổi tiếng với bản năng chiến đấu dũng mãnh. Ở thời điểm đó, có khá nhiều hãng xe sử dụng thiết kế động cơ đặt giữa, như Ford, Porsche và Ferrari, song Ferruccio không hề thích thú với kiểu thiết kế này. Ông sử dụng một nhóm 3 người để thiết kế Miura, sau 3 bản mẫu, Miura chính thức được sản xuất vào tháng 12/1966 và từ đó đến nay vẫn nằm trong tốp 3 chiếc xe đẹp nhất thế giới. Ban đầu Lamborghini dự định chỉ sản xuất 30 chiếc, nhưng sau đó đã thay đổi quyết định do lượng đặt hàng tăng lên chóng mặt. Hãng đã sản xuất cả thảy 764 chiếc Miura, bao gồm các phiên bản như P400, P400S, P400SV hay P400 Jota.


2. Lamborghini Countach (1974 - 1990)
Countach là mẫu xe thể thao động cơ đặt giữa được Lamborghini đưa vào sản xuất trong khoảng thời gian từ năm 1974 đến 1990. Đây có thể xem là mẫu xe tiên phong và định hình phong cách hầm hố, góc cạnh của các dòng xe Lamborghini nói riêng và siêu xe nói chung. Thiết kế đẩy cabin lái về phía trước nhằm tăng diện tích cho động cơ, và đặc biệt là cửa ra vào đóng mở kiểu cắt kéo cũng từ chính Countach mà ra.

Cái tên Countach bản thân nó cũng có một "tiểu sử" thú vị riêng. Đây là một từ cảm thán trong ngôn ngữ địa phương tại Ý có tên Piedmontese, thường được sử dụng bởi nam giới mỗi khi nhìn thấy một người phụ nữ tuyệt đẹp. Những lô Countach đầu tiên sử dụng chung động cơ V12 4 lít của Miura, sau này được nâng cấp lần lượt lên 5 lít rồi 5,2 lít. Có cả thảy 5 phiên bản Countach được sản xuất, bao gồm LP400, LP400S, LP500S, LP5000QV và một phiên bản đặc biệt nhân kỷ niệm 25 năm Countach ra đời. Tổng cộng, Lamborghini đã chế tạo được 2.042 chiếc Countach trong vòng đời 16 năm của nó. Cái tên Countach chỉ bị lu mờ phần nào kể từ khi kẻ kế nhiệm nó xuất hiện, Lamborghini Diablo.


3. Lamborghini Diablo (1990 - 2001)
Nhắc đến siêu xe của Lamborghini, đặc biệt là trong thập niên 90 của thế kỷ trước, cái tên nổi nhất chắc chắn là Diablo. Đây là mẫu xe kế nhiệm của Countach, và cũng là siêu xe đầu tiên của Lamborghini đạt vận tốc tối đa trên 200 dặm/h (320 km/h). Diablo được phát triển từ Dự án 132 khởi động vào năm 1985, và vẫn như truyền thống của Lamborghini, nó được đặt tên theo một giống bò tót.

Chiếc Diablo đầu tiên ra mắt công chúng vào ngày 21/1/1990 với giá bán 240.000 USD và thuộc thế hệ Diablo thứ I. Xe sử dụng động cơ V12 5,7 lít, cho công suất 492 mã lực. Diablo có thể tăng tốc từ 0 lên 100 km/h trong 4,5 giây và đạt vận tốc tối đa 202 dặm/h (325 km/h). Cùng trong thế hệ này có những phiên bản như Diablo VT, Diablo SE30 và SE 30 Jota, Diablo SV và Diablo VT Roadster.

Thế hệ thứ II của Diablo bắt đầu với Diablo SV vào năm 1999. Lúc này Lamborghini đã dừng mẫu Diablo cơ bản, Diablo SV trở thành phiên bản tiêu chuẩn của dòng Diablo. Điểm khác biệt dễ thấy giữa thế hệ này với thế hệ trước là Diablo không còn dùng kiểu đèn pha mắt ếch như trên đời cũ. Nội thất của Diablo SV cũng có một số thay đổi, và đặc biệt là động cơ được tăng lên đến 530 mã lực. Sau Diablo SV, Lamborghini lần lượt sản xuất thêm các phiên bản Giablo VT/VT Roadster, Diablo GT, Diablo VT 6.0/VT 6.0 SE. Ngoài ra, hãng siêu xe Ý còn xuất xưởng một số phiên bản đặc biệt cho đường đua chuyên nghiệp như Diablo SV-R hay Diablo GTR. Lamborghini đã sản xuất cả thảy 2.884 chiếc Diablo trước khi nhường ánh hào quang lại cho dòng xe Lamborghini Murciélago nổi tiếng.


4. Lamborghini Murciélago (2001- 2010)
Kế thừa thành công của 2 bậc tiền bối là Countach và Diablo, Murciélago ra mắt lần đầu tiên vào năm 2001 với tư cách là mẫu siêu xe 2 chỗ ngồi cao cấp nhất của Lamborghini. Đây cũng là dòng xe đầu tiên xuất xưởng dưới thời ông chủ Đức Audi. Murciélago là tên chú bò tót đã sống sót sau 28 nhát kiếm trong một trận đấu bò ở Tây Ban Nha vào năm 1879. Có lẽ vì sở hữu cái tên "oanh liệt" như vậy mà dòng Murciélago đã thành công rực rỡ trong suốt 9 năm tồn tại, với tổng số lượng xe xuất xưởng lên đến 4.099 chiếc.

Tương tự như Diablo, Murciélago cũng có 2 thế hệ, với thế hệ đầu từ năm 2001 đến 2006. Trong khoảng thời gian này, mẫu xe chủ yếu được gọi với cái tên đơn thuần là Murciélago. Xe sử dụng động cơ V12 6,2 lít, 580 mã lực, tăng tốc từ 0 lên 100 km/h trong 3,8 giây.

Tháng 3/2006, Lamborghini ra mắt thế hệ Murciélago mới với cái tên đầu tiên: Murciélago LP640. Hai chữ cái LP viết tắt của Longitudinale Posteriore, với ý nghĩa chỉ vị trí đặt của động cơ, còn 640 chính là công suất mà phiên bản này có thể đạt được, 640 mã lực. Giá đề xuất cho Murciélago LP640 tại thị trường Mỹ vào thời điểm đó là 318.000 USD cho phiên bản tiêu chuẩn. Một số phiên bản tiếp theo có thể kể đến là LP640 Versace, LP650-4 Roadster và LP670-4 SuperVeloce (ở Việt Nam hiện tại đang có 1 chiếc Murciélago LP670-4 SV).

Năm 2007, tại triễn lãm ô tô Frankfurt ở Đức, Lamborghini đã giới thiệu mẫu xe Reventón, một biến thể của Murciélago. Reventón có thiết kế kỹ thuật và động cơ giống hệt LP640, tuy nhiên ngoại thất được lấy cảm hứng từ máy bay chiến đấu F-22 Raptor của Mỹ. Chỉ có 21 chiếc được sản xuất ra trên toàn thế giới, với mức giá 1,4 triệu USD/chiếc.



Một bản độ toàn đen của chiếc Murciélago LP640



Lamborghini Reventón, biến thể đắt tiền nhất của Murciélago, có giá khoảng 1,4 triệu USD

5. Lamborghini Aventador (2011 đến nay)
Được giới thiệu tại triễn lãm ô tô Geneva Thụy Sĩ hồi đầu năm, Aventador là thành viên mới nhất trong gia tộc Lamborghini, và là mẫu xe thay thế cho dòng Murciélago nổi tiếng. Ngay sau khi ra mắt, Aventador đã được đặt hàng hết cho năm 2011, và việc giao xe sẽ bắt đầu trong 6 tháng cuối năm. Giá bán đề xuất cho một chiếc Aventador tiêu chuẩn tại Mỹ là 379.700 USD.

Aventador LP700-4 sử dụng động cơ V12 6,5 lít, cho công suất 690 mã lực. Với "trái tim" mạnh mẽ như vậy, siêu xe chỉ mất 2,9 giây để tăng tốc từ 0 lên 100 km/h, và đạt vận tốc tối đa ở mức 214 dặm/h (345 km/h). Aventador có mức tiêu thụ nhiêu liệu khoảng 17 lít xăng/100 km.


6. Lamborghini Gallardo (2003 đến nay)
5 mẫu xe đầu trên đầu là "hàng khủng" của Lamborghini tại thời điểm nó ra mắt, nhưng nếu nói đến chiếc xe được bán nhiều nhất thì không ai khác hơn chính là Gallardo. Mẫu xe được xếp vào dòng "bò con" (baby Lambor) đã xuất xưởng được hơn 10.000 chiếc. Vì là "bò con" nên Gallardo có thiết kế hiền lành nhất trong gia đình Lamborghini. Xe có 2 chỗ ngồi, kiểu dáng gọn, ít các chi tiết hầm hố hơn Murciélago hay Aventador. Kiểu cửa xe cắt kéo nổi tiếng cũng không được sử dụng trên Gallardo, khiến cho những ai muốn thưởng thức trải nghiệm đó buộc phải độ chú Gallardo của mình lên.

Một chiếc Gallardo tiêu chuẩn sở hữu động cơ V10 5 lít, cho công suất 493 mã lực, với thời gian tăng tốc tứ 0 đến 100 km/h trong khoảng 4,2 giây và đạt vận tốc tối đa 192 dặm/h (309 km/h). Qua 7 năm tồn tại, Lamborghini đã cho ra mắt khá nhiều những phiên bản Gallardo khác nhau, điển hình có thể kể đến như Gallardo SE, Gallardo Spyder, Gallardo Superleggera, LP560-4, LP570-4 Superleggera, LP570-4 Spyder Performante và mới đây nhất là Gallardo Super Trofeo Stradale. Gallardo cũng là mẫu xe thường được Lamborghini tặng cho lực lượng cảnh sát Ý làm phương tiện sử dụng.





Cảnh sát Việt Nam mà cũng có một chiếc như thế này thì thích nhỉ

7. Lamborghini Estoque

Estoque là một cái tên đặc biệt trong danh sách các mẫu xe đáng chú ý của thương hiệu Lamborghini. Được giới thiệu tại triển lãm ô tô Paris 2008 với tư cách là một bản mẫu, Estoque là siêu xe Lamborghini đầu tiên thuộc dòng sedan 4 cửa (những mẫu xe trước đây của hãng đều là 2 cửa, 2 chỗ ngồi). Ngay từ giây phút giới thiệu, giới mê xe đã bị ấn tượng mạnh bởi kiểu dáng sang trọng nhưng vẫn giữ nguyên phong cách hầm hố, mạnh mẽ của Lamborghini.

Trong khi khách hàng đang háo hức chờ đợi ngày bán ra chính thức thì đùng một cái, Lamborghini tuyên bố hủy kế hoạch sản xuất Estoque vào tháng 3/2009. Điều này khiến cho những đối thủ như Porsche rất vui mừng, vì với tầm giá trên 200.000 USD, nếu được sản xuất, Estoque sẽ là đối thủ đáng gờm của Porsche Panamera. Vào thời điểm đó, chủ tịch kiêm CEO của Lamborghini là Stephan Winkelmann đã khẳng định hãng có nhiều cơ hội với những dòng xe khác ngoài siêu xe, song Lamborghini không có ý định đưa bản mẫu Estoque vào sản xuất.

Tuy nhiên, những người yêu thích mẫu xe này cũng có lý do để hi vọng, khi thời gian gần đây có nhiều tin đồn cho biết có thể Lamborghini sẽ cân nhắc lại quyết định sử dụng mẫu xe Estoque.


[Nguồn: tinhte.vn]