Total Pageviews

Friday, May 3, 2013

Nếu mặt trăng của chúng ta bị thay thế bởi các hành tinh khác


sao-tho

Có bao giờ bạn nghĩ nếu thế chỗ cho Mặt Trăng kia mỗi đêm là sao Hỏa, sao Thổ hay sao Mộc thì cảnh tượng sẽ như thế nào không? Mình không nói đến các ảnh hưởng của nó mà chỉ đề cập đến vấn đề hình ảnh mà thôi. Nếu sao Hỏa thế chỗ Mặt Trăng thì mỗi đêm chúng ta sẽ thấy có một quả cầu xù xì rất xấu trên bầu trời, nếu đó là sao Mộc bạn sẽ thấy nó cực kỳ to còn nếu đó là sao Thổ thì cảnh tượng sẽ rất hoành tráng.


Đây là hình ảnh Mặt Trăng bình thường của chúng ta, có đường kính 3.476 km:

Moon

Sao Kim, đường kính 12.092 km (chỉ nhỏ hơn 650 km so với Trái Đất):

Venus

Sao Hỏa, đường kính khoảng hơn 6.000 km (bằng phân nửa so với Trái Đất):

Mars

Sao Mộc, đường kính 142.984 km, lớn hơn gấp 10 lần Trái Đất và bằng 1/10 đường kính Mặt Trời:

Jupiter

Sao Thổ, đường kính khoảng 120.000 km, lớn hơn Trái Đất khoảng 9 lần:

Saturn1

Sao Thiên Vương, đường kính khoảng 50.000 km, được gọi là "hành tinh băng khổng lồ". Màu lục lam mà bạn thấy đó là bụi mờ quang hóa học HidroCarbon trên cao nằm phía trên các đám mây Mêtan.

Uranus
Sao Hải Vương, đường kính khoảng hơn 48.000 km, màu xanh nổi bật của hành tinh là do phân tử Mêtan hấp thụ ánh sáng bước sóng đỏ.

Neptune

Friday, March 22, 2013

Một Zettabyte lớn cỡ nào????

big-data-final_avatar

Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, các dịch vụ chia sẻ phim ảnh trực tuyến, đi kèm với với sự gia tăng nhanh chóng số lượng thiết bị di động và các tiện ích email, tin nhắn lướt web đã tạo ra một lượng thông tin khổng lồ. Từ đó bắt đầu xuất hiện thêm một khái niệm mới về dữ liệu đó là Zettabyte. Hãy tìm hiểu những thông tin thú vị về Zettabyte trong bài Infographic sau.



big-data-final8-

Những cái chết kỳ lạ gây ra bởi khoa học - công nghệ

Tinhte_chết bởi công nghệ

Khoa học - Công nghệ ngày càng phát triển đã giúp cuộc sống của con người trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết: dễ trong việc giao tiếp, dễ trong việc kết nối với người thân, bạn bè, với các bạn trai thì dễ tán đổ gái hơn, còn với những bạn nữ thì nhiều kiểu tự sướng được ra đời nhờ vào camera ngày càng xịn trên các smartphone hiện nay. Đó là những điểm lợi mà công nghệ mang lại, vậy còn những mặt tối của nó thì sao? Chúng ta đã nghe đến khá nhiều chứng bệnh mà công nghệ gây ra như nghiện Facebook, nghiện Internet, vô tâm, và đỉnh điểm hơn đó là việc công nghệ gây ra nhiều cái chết thương tâm. Chết bởi công nghệ tiên tiến, nghe có vẻ nực cười nhưng điều đó là có thật. Trang Gizmodo đã tổng hợp lại 10 cái chết mà hung thủ chính đó chính là KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ.

1. Chết bởi chân gỗ giả

Tinhte_chân gỗ

Vào thời xa xưa, mặc dù công nghệ lúc đó vẫn còn sơ khai, nhưng người ta đã có thể chế tạo thành công chân gỗ để giúp cho những ai bị mất chân vì chiến tranh, hay tai nạn có cơ hội để đi lại bình thường. Nhưng tiếc thay có vẻ như vì dân trí của nhiều người lúc đó vẫn chưa theo kịp với tốc độ phát triển của công nghệ nên đã gây ra một cái chết rất thương tâm. Theo đó, Sir Arthur Aston, người đứng đầu phe chủ nghĩa cực đoan, đã bị đánh cho đến chết bởi một đám đông chỉ vì họ nghi ngờ rằng ông ta đã giấu vàng trong chân gỗ của mình.

2. Chết bởi Sét Hòn (Ball Lightning)

Tinhte_hon set

Nạn nhân tiếp theo đó chính là Giáo sư Georg Wilhelm Richmann, tại Saint Petersburg, Nga, là người mang rất nhiều danh hiệu "đầu tiên" bởi: thứ nhất ông là người đi tiên phong trong các dự án nghiên cứu về dòng điện, điện tích. Thứ hai ông là một trong những người đầu tiên thực hiện các thí nghiệm về điện. Và cuối cùng, ông cũng chính là người đầu tiên trên thế giới bị chết bởi chính các thí nghiệm mà ông thực hiện, khi Richmann đã bị sét hòn đánh trúng vào đầu. (năm 1753).

3.Chết ngạt trong bia

Tinhte_ngập bia

Đây quả thật là một cái chết rất kỳ lạ. Phải nói là rất là lạ bởi thường thì người ta hay chết ngạt dưới hồ, sông, biển, chứ chết ngạt trong...bia thì rất lạ. Nhưng điều đó đã diễn ra tại London, Anh. Cụ thể vào năm 1814, đã có tổng cộng 7 người chết khi nhiều thùng ủ khổng lồ đã đột ngột bị vỡ. Hậu quả là hơn 1.468.000 lít bia bị đổ ra ngoài đường, gây cản trở giao thông, nhiều người bị thương và ngộ độc bởi chất cồn trong bia.

4.Chết bởi tàu hoả chạy bằng hơi nước

Tinhte_chết vì xe lửa

Tàu lửa chạy bằng động cơ hơi nước là một trong những phát minh vĩ đại của con người, đánh dấu bước nhảy vọt trong sự phát triển của toàn ngành khoa học - công nghệ. Tuy nhiên, thật đáng tiếc là nó cũng nằm trong danh sách "những sát thủ" gián tiếp gây ra cái chết cho một người phụ nữ (có tên là Mary Ward) vào năm 1869. Vào thời điểm đó, tàu đang chạy với tốc độ bình thường, nhưng khi đến ngã cua, bà Ward bỗng bị bật ra khỏi toa dành cho hành khách, và thật không may thay bà đã bị chính bánh xe của tàu cán qua ngang người.

Ngay lập tức, nạn nhân được chuyển đến nhà của bác sĩ Woods ở gần đó, tuy nhiên vì vết thương quá nặng nên bà Ward đã không thể được cứu sống. Cái chết của Mary Ward cũng là cái chết thương tâm đầu tiên bị gây ra bởi giao thông vận tải cơ giới.

5.Chết bởi...mật đường

Tinhte_chết vì mật đường

Nếu các bạn vẫn còn thấy bỡ ngỡ vì một số người đã chết bì bia, thì có lẽ bạn sẽ càng bất ngờ hơn khi biết rằng mật đường cũng có thể làm...chết người. Vào năm 1919, một hồ chứa 2,3 triệu gallon mật đường đã bất ngờ bị nổ tung, tạo ra nhưng đợt sóng mật đường chảy ra với vận tốc 35 mph (56,3 km/h), gây ra cái chết cho 21 người, và làm bị thương 150 người. Đó thực sự là một ngày thảm hoạ với thành phố Boston, Mỹ.

6. Chết bởi trạng thái "siêu tới hạn"

Tinhte_chết vì hiện tượng siêu tới hạn
Chân dung của Harry K.Daghlian

Vào năm 1945, nhà khoa học hạt nhân là Harry K. Daghlian đã phá vỡ quy tắc đầu tiên của dự án Manhattan - khi ông vô tình bỏ vonfram carbua vào một lõi bom chứa plutonium. Khi hai thành phần này tiếp xúc với nhau, lõi bom chứa plutonium sẽ đi vào trạng thái "siêu tới hạn" và sẽ giải phóng ra bức xạ ion hoá có thể gây tử vong. Hậu quả là sau 25 ngày, Daghlian đã là người đầu tiên qua đời vì tai nạn "siêu tới hạn".

Để các bạn hiểu rõ hơn một chút thì tai nạn "Siêu tới hạn" xảy ra khi chuỗi phản ứng hạt nhân bị mất kiểm soát (thường xuất hiện khi trộn uranium làm giàu và plutonium lại với nhau). Lúc đó, phản ứng sẽ tạo ra tia bức xạ gồm hai thành phần là neutron và tia gamma - rất nguy hiểm đối với cơ thể con người nếu không có dụng cụ phòng vệ.

7. Chết vì nổ khí nén

Tinhte_chết vì nổ khí nén

Ngày 30/6/1971 là một ngày đáng quên của ngành vũ trụ thế giới bởi thảm hoạ mang tên "Soyuz-11", gây ra cái chết cho ba nhà du hành vũ trụ là Georgy Dobrovolsky, Vladislav Volkov và Viktor Patsayev. Sự việc tồi tệ này xảy ra lúc "Soyuz-11" đang bắt đầu hạ cánh sau sứ mệnh thăm dò vũ trụ. Quá trình hạ cánh diễn ra bình thường cho đến khi tàu cách mặt đất 150km, lúc đó "Soyuz-11" bắt buộc phải tách ra thành 3 phần trước khi đi vào khí quyển.

Tuy nhiên vào thời điểm tách thì bất ngờ van thông khí thở nối khoang tàu với bên ngoài bỗng nhiên mở ra, áp lực trong khoang giảm đột ngột và nhanh chóng, nhanh đến mức độ 3 nhà phi hành đã bị bất tỉnh trước khi kịp tháo dây an toàn để đóng van thông khí thở lại. Lực nén trong khoang quá lớn, khi bị thoát ra với vận tốc nhanh đã tạo nên sự nổ "khí nén". Kết quả là cả ba đã chết trong tình trạng bị xuất huyết não, máu tràn trong phổi, máu tiết ra lưu huỳnh và tổn thương màng nhĩ.

8. Chết bởi cánh tay Robot

Tinhte_chết vì cánh tay robot

Robot là một phát minh tuyệt vời trong việc thay thế sức lao động của con người, thế nhưng dù hiện đại đến đâu thì Robot cũng chỉ là bộ máy và việc nó "mắc lỗi" trong lúc hoạt động cũng không quá bất ngờ. Tuy nhiên, lỗi đến mức gây ra cái chết cho một người thì vô cùng nghiêm trọng. Vào ngày 25/1/1979, tại nhà máy lắp ráp của hãng xe Ford Motor, kỹ sư Robert Williams đã phải trèo lên gian hàng để lấy phụ kiện do Robot lấy hàng bỗng nhiên bị hư, không hoạt động. Mọi chuyện diễn ra êm xuôi cho đến lúc Robot đột ngột hoạt động trở lại, và hậu quả là cánh tay Robot đã đập thẳng vào đầu của Williams, khiến cho ông này chết ngay tại chỗ. Robert Williams cũng là người đầu tiên trên thế giới chết vì Robot.

9. Chết bởi cánh quạt ở đuôi trực thăng

Tinhte_chết bởi cánh quạt trực thăng
Trường hợp "sinh nghề tử nghiệp" cũng đã đến với vị đạo diễn Boris Sagal(trái)

Lại là một trường hợp "sinh nghề tử nghiệp" nữa đã xảy ra. Vào năm 1981, đạo diễn người Ukraina, Boris Sagal, trong lúc chỉ đạo đoàn thực hiện bộ phim World War III, ông đã vô tình bước vào cánh quạt ở đuôi trực thăng đang quay, kết quả là đầu của Sagal đã bị cánh quạt chém đứt lìa khỏi người, khiến vị đạo diễn này chết ngay tại phim trường.

10. Chết bởi niềm tin vào "cửa sổ gương không bao giờ vỡ"

123123
Hình minh hoạ

Có lẽ trong mười cái chết thì đây là cái chết kỳ cục nhất. Qua câu chuyện này cũng xin nhắc nhở mọi người đừng nên quá tin vào công nghệ để rồi có những tai nạn như vị luật sư sau đây. Vào năm 1993, một luật sư người Canada, Garry Holl, vì muốn chứng minh cho sinh viên thấy rằng cửa sổ bằng gương ở những toà cao ốc không bao giờ bị vỡ, ông đã nhiều lần tự lấy thân mình làm thí nghiệm: đó là tự lao thẳng vào gương. Mọi chuyện đều không có gì phải nói cho đến một ngày xui xẻo, trong lần thử thứ hai, chiếc gương bất ngờ vỡ và Holl đã rơi xuống từ tầng 24. Có vẻ kết quả thế nào thì ai cũng có thể biết được.
 
[Nguồn: tinhte.vn]

Tuesday, February 19, 2013

Sức mạnh 'lá chắn thép' Bastion trấn giữ biển Đông


Đoàn 681 Hải quân, Quân chủng Hải quân được trang bị Tổ hợp tên lửa bờ Bastion và Tổ hợp ra đa bờ Monolit-B. Bastion-P là một trong những hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển cơ động hiện đại nhất trên thế giới hiện nay.
Ảnh:
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion Việt Nam đang sở hữu.
Cùng với các loại vũ khí hiện đại khác như các phi đội máy bay SU-27/30 tác chiến không và biển; tàu ngầm kilo phục kích dưới mặt nước; các loại tàu hộ vệ tên lửa cao tốc trang bị mạnh như Molniya 'tia chớp' và hộ vệ hạm tàng hình Gepard 3.9 tác chiến trên mặt nước; các hệ thống tên lửa có thể cất giấu trong các containner như Club-K hay Kh-35 đảm bảo yếu tố bí mật bất ngờ, nhất là tổ hợp tên lửa Bastion-P có sức mạnh hủy diệt ghê gớm... Có thể giúp Việt Nam xây dựng chiến lược 'chống tiếp cận' hết sức hữu hiệu trước các nguy cơ đến từ hướng biển, đồng thời tạo sức mạnh răn đe với bất kỳ kẻ thù nào dám manh động xâm phạm chủ quyền biển đảo của nước ta.
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion được bắt đầu thiết kế và phát triển trong thời kỳ Xô Viết vào những năm 80. Nhưng chỉ vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 mới được đưa vào trong biên chế và xuất khẩu ra nước ngoài. Một số tổ hợp đã được Việt Nam và Syria đặt mua. Khách hàng tiềm năng tiếp theo là Velezuela.
Đầu năm 2011, Hạm đội Biển Đen, Lữ đoàn pháo binh - tên lửa số 11 (tên gọi Anapa) nhận được tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển cơ động thứ 3 "Bastion". Hai tổ hợp trước đã được biên chế vào lữ đoàn vào năm 2010. Lữ đoàn 11 được trang bị trong biên chế trước đây là: Pháo tự hành phòng thủ bờ biển SU-130mm A-222 và tổ hợp tên lửa chống tàu "Redoubt".
Đây là tổ hợp vũ khí rất mạnh, một trong những tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển tốt nhất, có khả năng cơ động cao, sử dụng tên lửa chống tàu có tốc độ siêu âm 3M55 "Yakhont" ("Onyx").
Tổ hợp tên lửa Bastion.
Tổ hợp tên lửa Bastion.
Tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển cơ động Bastion có khả năng tiêu diệt tất cả các tàu chiến, tàu vận tải, tàu xuống các loại, tấn công các mục tiêu đơn lẻ hoặc tấn công các cụm tầu thuyền chiến đấu, đồng thời có thể tấn công các cụm binh lực đổ bộ đường biển, đường không, các cụm binh lực trang bị nặng cho các hoạt động đột phá. Tổ hợp có thể hoạt động trong điều kiện hỏa lực đối phương rất mạnh, khả năng gây nhiễu điện từ và chế áp điện tử của đối phương cao nhất. Tổ hợp tên lửa Bastion có khả năng tấn công mục tiêu xa đến 300 km và bảo vệ một tuyến bờ biển chống tác chiến đổ bộ của đối phương lên đến 600 km.
Biên chế của tổ hợp: Tên lửa chống tàu K-130 "Yakhont" trong các thùng phóng dạng container; Xe phóng đạn (SPM K340P) trên thân xe Kamaz- 43101, với biên chế kíp xe là 5 chiến sĩ, hoặc trên xe MZKT-7930 kíp xe 3 người; Xe điều khiển tên lửa MBU K380P trên thân xe MZKT-65 273 với kíp xe điều khiển là 4 người; Thiết bị quản lý thông tin kỹ thuật đầu đạn tên lửa với thiết bị điều khiển bay trên tên lửa đất đối biển; Hệ thống điều khiển hỏa lực tự động ASBU; Tổ hợp trang bị hậu cần kỹ thuật; Xe vận tải và nạp đạn TLV K342P được trang bị cần cẩu có trọng tải 5,9 tấn dùng để tiếp đạn cho xe K340P; Xe hỗ trợ trực sẵn sàng chiến đấu; Hệ thống huấn luyện; Hệ thống máy bay trực thăng chỉ thị mục tiêu.
Bên cạnh cấu hình Tổ hợp nêu trên, còn thiết bị hỗ trợ ngắm bắn như: Hệ thống ra-đa ngắm bắn bờ biển tự hành Monolit-B, hay hệ thống ngắm bắn đường không 1K130E (gồm ra-đa Oko băng sóng đề-xi-mét gắn trên máy bay trực thăng Ka-31).
Biên chế tiêu chuẩn của tổ hợp Bastion: 4 ống phóng tên lửa thẳng đúng trên hai xe vận tải-bệ phóng đạn "Yakhont", kíp lái 3; 1-2 xe điều khiển hỏa lực (kíp lái 5 người); 1 xe hỗ trợ trực sẵn sàng chiến đấu; 4 xe vận tải nạp đạn; Bổ sung cho tổ hợp Bastion có thể có rada tìm kiếm và và phát hiện mục tiêu tầu trên mặt biển, chỉ thị mục tiêu Monolit B trên xe, tầu cơ động và trên máy bay trực thăng chiến đấu.
Thời gian triển khai sẵn sàng chiến đấu 5 phút. Sau đó Tổ hợp có thể tấn công liên tục 8 tên lửa. Cơ số đạn của tổ hợp: max 24 tên lửa "Yakhont" cho 2 bệ phóng. Thời gian phóng liên tiếp là 2,5s cho một tên lửa. Sau khi triển khai sẵn sàng chiến đấu, Tổ hợp sẽ trực chiến đấu trong vòng 24 tiếng không cần sự hỗ trợ của tranh bị dự phòng. Thêm xe hỗ trợ trực sẵn sàng chiến đấu là 30 ngày. Thời gian khai thác sử dụng tổ hợp 10 năm.
Sơ đồ tác chiến của hệ thống tên lửa chống tầu Bastion-P.
Sơ đồ tác chiến của hệ thống tên lửa chống tầu Bastion-P.
Tên lửa chống tàu "Yakhont" ("Onyx") được thiết kế và chế tạo theo sơ đồ khí động học với những cách hình thang vuông gấp lại được và mở ra khi phóng, để ổn hướng và điều hướng, đồng thời các van điều hướng luồng phụt, tại phần đáy đạn và hệ thống tạo luồng hút tại chóp mũi đạn, giúp đạn tên lửa tự ổn định và xoay theo hướng phóng dự kiến. Tên lửa có hệ thống dẫn đường tổ hợp (hệ thống đạo hàng quán tính và hệ thống tự dẫn radar ở giai đoạn cuối của quỹ đạo bay của tên lửa. Tên lửa dùng động cơ phản lực công xuất lớn, bay với tốc độ siêu âm (động cơ phản lực dòng khí thẳng với ống phóng tăng tốc sử dụng thuốc phóng dạng rắn. Động cơ có bộ phận nạp khí đồng trục ở đầu tên lửa và ống chụp đầu tên lửa hình nón.
Thông số kỹ thuật tên lửa "Yakhont" ("Onyx"): Chiều dài: 8,0 m; Đường kính: 0,70 m; Sải cánh: 1,7 m; Khối lượng: 3000 kg; Ống phóng container kín chiều dài: 8,9 m; Đường kính: 0,72 m; Khối lượng với ống phóng container TNS: 3.900 kg; Khối lượng đầu đạn: 200 kg; Tốc độ trên cao: 750 m/s (2,6 М); Tốc độ trên mặt nước tầm thấp: 680 m/s (2 М); Tầm bay của tên lửa: Khi tên lửa bay với tầm cao thay đổi theo quỹ đạo bay: (Giai đoạn đường bay cuối- 40 km)- 300 km; Khi tên lửa bay thấp với tầm bay cao là: 15 m - 120 km; Tầm bay cao của tên lửa 10-14.000 m; Động cơ phản lực: SPVRD; Lực đẩy: (кН) 4000; Khối lượng dầu T-6, 200 kg; Ống tăng tốc phản lực: Thuốc phóng dạng rắn; Khối lượng động cơ phản lực, 500 kg.
Hệ thống điều khiển: Trong giai đoạn bay hành trình - Đạo hàng quán tính; Trong giai đoạn cuối của quỹ đạo - dẫn đường bằng radar đơn xung, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết; Tầm phát hiện mục tiêu của radar: 50 - 70 km; Góc tìm kiếm và phát hiện mục tiêu ± 45°; Thời gian sẵn sàng hoạt động của radar khi bật: 2 phút; Khối lượng của radar - 85 kg; Điều kiện hoạt động của radar tự dẫn - biển động cấp 7.
Những đặc điểm kỹ chiến thuật của tên lửa "Yakhont" ("Onyx"): Tấn công mục tiêu ngoài đường chân trời; Chế độ tự động hóa hoàn toàn (bắn - quên); Có nhiều quỹ đạo bay khác nhau (thấp; cao và thấp); tốc độ bay siêu âm trên tất cả các tầm bay khác nhau; Khó nhận biết bằng radar trên boong tầu do sử dụng công nghệ tàng hình (stealth); Có thể sử dụng trên mọi phương tiện mang: tầu nổi, tầu ngầm và các phương tiện phóng trên mặt đất.
Tên lửa chống tàu "Yakhont" ("Onyx") lúc đầu được chế tạo như một tên lửa đa dụng, được lắp trên máy bay, tàu chiến nổi, tàu ngầm, đồng thời trên các bệ phóng trên mặt đất: Tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển Bastion; Tàu ngầm dự án 885 "Ash";
Tàu phóng tên lửa cỡ nhỏ dự án 1234.7 "Rolling"; Các tàu tuần biển dự án 22350 "Đô đốc Gorskov", kế hoạch đóng 20 chiếc tàu loại này (10 tàu trong 10 năm).
Sơ đồ hoạt động của tên lửa chống tàu Yakhont.
Sơ đồ hoạt động của tên lửa chống tàu Yakhont.
Nguyên tắc hoạt động của tên lửa "Yakhont"
Sau khi tên lửa được phóng khỏi ống phóng, động cơ tăng tốc sử dụng nhiên liệu rắn khởi động, ống khởi động được đặt trong buồng đốt của động cơ tên lửa, trong vòng vài giây, ống tăng tốc sẽ tăng tốc tên lửa lên đến 2M. Sau khi cháy hết, ống tăng tốc được đẩy ra ngoài bằng luồng khí và bắt đầu hoạt động của động cơ hành trình chính. Động cơ đẩy tên lửa bay với tốc độ 2,5M theo quỹ đạo đường đạn đã được nạp trong máy tính trên tên lửa.
Radar tự dẫn trên đầu đạn có thể khóa mục tiêu như tầu tuần dương trên khoảng cách đến 75 km. Sau khi phát hiện và khóa mục tiêu. Máy tính sẽ hạ độ cao của tên lửa xuống còn 5-10 m so với mặt nước biển, làm giảm đến tối thiểu khả năng đánh chặn của hệ thống phòng không trên tầu đối phương trong trường hợp địch phát hiện ra.
Chế độ hạ độ cao bay của tên lửa thấp hơn độ cao phát hiện của radar làm gián đoạn khả năng bám tên lửa của các loại vũ khí phòng không, tốc độ siêu âm và độ cao thấp trong giai đoạn bám và tự dẫn tấn công mục tiêu làm cho đối phương không thể chặn đánh được tên lửa.
Lần thứ hai radar được bật lên để bắt mục tiêu trong giai đoạn cuối, dẫn đường và đưa tên lửa vào mục tiêu. Thời gian ngắn và tầm xa của radar cho phép sử dụng các radar đơn xung có độ chính xác không cao. Lần bật radar thứ nhất ở độ cao cho phép xác định mục tiêu, lựa chọn mục tiêu của từng tên lửa theo cụm tàu và loại trừ các mục tiêu giả. Đây là tính năng rất hiệu quả của Yakhont. Tương tự như máy bay cảm tử của Nhật trong thế chiến thứ 2, vụ tấn công của tên lửa Yakhont với số lượng lớn đảm bảo khả năng tiêu diệt các tàu xuồng rất cao. Và do tốc độ cao > 2M. Khả năng tiêu diệt tên lửa ở tầm gần là không thể.
Một trong những đặc trưng của Yakhont là chương trình phần mềm nhân tạo chạy trên máy tính đầu đạn. Nó cho hiệu quả chiến đấu rất cao khi bắn loạt tên lửa. Trong trường hợp bị tấn công ồ ạt với số lượng lớn các tàu, chương trình trên đầu đạn tự chọn và đánh giá độ quan trọng của mục tiêu, lựa chọn tọa độ và phương thức tấn công. Đồng thời, chương trình cũng lựa chọn khả năng chống lại tác chiến điện tử và lựa chọn phương án tránh góc bắn của hỏa lực phòng không đối phương để tấn công tầu.
Khi tiêu diệt mục tiêu trong đội hình, các tên lửa còn lại chuyển hướng sang các mục tiêu khác, loại trừ khả năng 2 tên lửa cùng tiêu diệt một mục tiêu. Tính năng chiến thuật này được đảm bảo bằng máy tính trên tên lửa có hình ảnh của các loại tàu và các thông số khác, cho phép xác định loại cụm tàu và tàu (vận tải, tuần dương, tầu tuần tiễu, tầu sân bay, và tàu xuồng của lực lượng đổ bộ biển, từ đó tấn công mục tiêu quan trọng nhất).
Trong điều kiện phát triển sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Hải quân, các tổ hợp tên lửa này cho phép bảo vệ vững chắc vùng biển, bờ biển của quốc gia. Đồng thời, cũng phải sử dụng tác tổ hợp tên lửa có tầm bắn gần, dưới 120 km Bal-E, tên lửa chống tầu Club-M có tầm bắn đến 150 km. Đồng thời phát triển các loại pháo tự hành bờ biển, tạo thành hệ thống phòng thủ lớp vững chắc vùng bờ biển.
Theo Tiền Phong

Friday, January 25, 2013

Hành trình 18 tỷ km của tàu thăm dò vũ trụ Voyager 1

Được phóng đi từ 35 năm trước, tàu thăm dò vũ trụ Voyager 1 đã trải qua quãng đường 18 tỷ km, tới ranh giới cuối cùng của hệ mặt trời với không gian bao la, nơi xa nhất mà con người tiếp cận.


Vào thời điểm được thiết kế, hai tàu thăm dò hệ mặt trời thuộc dự án Voyager làVoyager 1 và Voyager 2 được coi là thành tựu vượt bậc của công nghệ chinh phụckhông gian. Sở hữu hệ thống lò phản ứng hạt nhân kích cỡ nhỏ nhưng nó vẫn đảm bảo cho các tàu Voyager hoạt động liên tiếp nửa thế kỷ, phục vụ hành trình khám phá hệ mặt trời vĩ đại.
Được NASA phóng đi ngày 5/9/1977, Voyager 1 với trọng lượng 722 kg chuyên trách nhiệm vụ khám phá toàn bộ hệ mặt trời và những hành tinh xa xôi trên đường đi của nó. Ngoài việc cung cấp cho các nhà khoa học cái nhìn chi tiết về những hành tinh chưa từng được tiếp cận, Voyager 1 còn giúp xác định chính xác độ lớn của hệ mặt trời, dựa vào quãng đường khổng lồ nó vượt qua.
Ngoài hệ thống lò phản ứng hạt nhân cực mạnh, đủ để cung cấp hoạt động liên tục của con tàu trong 50 năm, Voyager 1 còn sở hữu hệ thống thông tin liên lạc qua sóng radio đặc biệt, cho phép nó chuyền dữ liệu vượt qua hàng tỷ km về trái đất. Sử dụng bước sóng cực dài, radar của Voyager 1 có thể truyền về trái đất lượng dữ liệu tương đương 115,2kb/s.
[IMG]
Tàu thăm dò hệ mặt trời Voyager 1 đang được hoàn tất những chuẩn bị cuối cùng trước khi lắp đặt lên tàu vũ trụ để thực hiện hành trình lịch sử. Cả 2 tàu thăm dò thuộc dự án Voyager đều được lắp ráp và phóng đi từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy tại mũi Canaveral, Florida tháng 9/1977.
[IMG]
Tên lửa Titan đưa Voyager 1 vào quỹ đạo ngày 5/9/1977, 16 ngày trước khi tàu Voyager 2 được phóng đi với cùng nhiệm vụ. 2 năm sau, Voyager 1 đã vượt qua quãng đường 278.000 km để tới chụp hình sao Mộc trước khi bay qua và ghi lại hình ảnh sao Thổ.
[IMG]
Bức ảnh Voyager 1 chụp chấm đỏ khổng lồ trên bề mặt sao Mộc. Đây có thể là trung tâm một cơn bão khí gas khổng lồ, tồn tại suốt hơn 300 năm qua trên bề mặt sao Mộc. Những điểm trắng là loại mây khác, được cho là hình thành từ những năm 1940.
[IMG]
Vòng tròn bao quanh sao Mộc hoàn toàn không thể nhìn thấy từ trên trái đất. Được tạo thành từ bụi và thiên thạch do lực hút của sao Mộc, có cấu trúc tương tự với vòng tròn bao quanh sao Thổ và sao Diêm Vương, đây là lần đầu tiên vòng tròn này lộ diện với con người.
[IMG]
Hình đĩa bụi khổng lồ bao quanh sao Thổ được Voyager 1 chụp lại ngày 21/8/1981, với đường kính 2,5 triệu dặm.
[IMG]
Hai mặt trăng Triton và Neptune của sao Hải Vương được tàu thăm dò Voyager 1 chụp ảnh. Triton là khối cầu nhỏ hơn hình lưỡi liềm, nhìn giống với mặt trăng trên trái đất.
[IMG]
Sao Mộc và những mặt trăng của nó bao gồm Europa, Ganymede và Callisto được chụp lại bởi tàu thăm dò Voyager 1.
[IMG]
Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến đĩa vàng Voyager trên các tàu thăm dò. Được thiết kế chuyên dụng, đĩa vàng mang đầy đủ thông tin số hóa về trái đất và những dạng sống của nó. Ngoài ra, đĩa vàng còn mang những âm thanh trái đất, bao gồm lời phát biểu của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và Tổng thống Mỹ thời điểm đó cùng bài hát của cá voi, tiếng trẻ em khóc, tiếng sóng vỗ bờ và những tác phẩm âm nhạc kinh điển.
[IMG]
Tính tới thời điểm hiện tại, các tàu thăm dò hệ mặt trời Voyager 1 và Voyager 2 đang tạo ra những kỷ lục, với khoảng cách lần lượt là 18 tỷ km và 15,5 tỷ km so với mặt trời. Thiết kế đột phá giúp các tàu Voyager trở thành cỗ máy nhân tạo di chuyển xa nhất trong không gian mà con người từng chế tạo.
 [Nguồn: tinhte.vn]

Tìm hiểu về chuẩn âm thanh Dolby Atmos

[IMG]
Chuẩn Atmos (bên phải) hướng âm thanh đến tai người nghe đúng hướng hơn

Nhân việc phim hoạt hình Brave sắp ra mắt sử dụng chuẩn âm thanh Dolby Atmos mới, chúng ta hãy cùng tìm hiểu sơ lược về chuẩn này. Dolby Atmos được hãng Dolby chính thức giới thiệu vào tháng 4 vừa qua, được xem là bản nâng cấp đáng giá so với chuẩn Dolby Surround 7.1 hiện tại.

Vào năm 2010, Dolby từng giới thiệu chuẩn âm thanh vòm 7.1 cho các rạp chiếu phim thì 2 năm sau, tháng 4/2012 vừa rồi họ đã đưa ra một chuẩn mực mới với tên gọi Dolby Atmos. Nếu như Dolby Surround 5.1 và 7.1 đem đến cho người nghe sự sống động và trung thực trong âm thanh thì Atmos sẽ nâng chất lượng đó lên thêm nhiều lần nữa. Kể từ chuẩn Atmos, các nhà làm phim có thể thoải mái thể hiện các hiệu ứng âm thanh, tiếng động mà họ muốn dễ dàng hơn. Bởi Atmos hỗ trợ âm thanh có thể phát ra từ (lên đến) cả trăm cái loa vệ tinh, vốn sẽ được lắp đặt dày đặc khắp nơi trong khán phòng, từ trái qua phải, trên xuống dưới cho đến cả dưới nền và trên trần nhà.


[IMG]
Kodak Theatre, nơi Dolby dùng quảng bá về Atmos

Nhờ vậy, âm thanh và tiếng động sẽ được tái tạo một cách chân thực và sống động hơn. Đây cũng là điểm khác biệt dễ nhận thấy ở Atmos so với các chuẩn cũ. Ngoài ra, Atmos cũng thêm vào nhiều loa chuyên thể hiện các âm thanh ở âm vực cao nhằm tái tạo thật nhất các tiếng động như tiếng mưa rơi, tiếng gió máy bay trực thăng, tiếng ong bay, chim kêu...

[IMG]
Mô phỏng hệ thống loa Atmos,
màu Đỏ là các loa theo chuẩn cũ và màu Xanh là số loa chuẩn Atmos thêm vào

Dolby cũng cho biết chuẩn Atmos hoàn toàn tương thích ngược với Surround 7.1, 5.1 và Stereo 2.0, tức là một nội dung khi được tạo ra với âm thanh Atmos thì vẫn có thể tinh chỉnh lại để thích hợp với các chuẩn cũ. Hiện tại Dolby Atmos chỉ mới áp dụng cho hệ thống âm thanh của các rạp chiếu phim, khán phòng cao cấp chứ chưa có lịch trình cụ thể có mặt trên các phương tiện giải trí tại gia. Khi được hỏi về ưu/nhược điểm so với IMAX, phó chủ tịch dịch vụ Dolby toàn cầu David Gray cho biết: "Về cơ bản Dolby Atmos và IMAX là 2 lĩnh vực hoàn toàn khác nhau, và IMAX chỉ sử dụng âm thanh 5.1 nên hầu như không có gì để so sánh". (Đơn giản vì IMAX là chuẩn màn ảnh rộng, còn Dolby Atmos là chuẩn âm thanh. Đem hình ảnh so sánh với âm thanh là điều hoàn toàn không thể.)

Hiện tại chỉ có tổng cộng 25 nơi trên toàn Thế giới đã được trang bị chuẩn Dolby Atmos, trong đó 17/25 là ở Mỹ (bao gồm 14 rạp chiếu phim và 3 văn phòng của Dolby). Tham khảo danh sách ở đây, người dùng ở gần có thể đến nơi này để được trải nghiệm thử âm thanh Dolby Atmos kể trên. Họ cho biết sẽ có thêm nhiều nơi được trang bị công nghệ này vào năm 2013. Chuẩn âm thanh của Dolby được áp dụng trên gần 90% các hệ thống âm thanh giải trí hiện nay (rạp phim, dàn loa, dàn âm thanh, tivi, máy nghe nhạc, điện thoại... chưa kể 100% máy tính chạy Windows và Mac OS X đều tương thích âm thanh của Dolby).

[Nguồn: tinhte.vn]

Tìm hiểu về bom Big Ivan - Sức công phá bằng 10 lần tất cả bom đạn trong Thế chiến thứ 2 cộng lại

tsar

Tháng 8/1945, Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố lớn của Nhật Bản là Hiroshima và Nagasaki, tuy đây là 2 quả bom nguyên tử đầu tiên của thế giới, nhưng sức công phá của nó vẫn vô cùng to lớn mà cho tới nay người ta vẫn chưa tính toán được hết thiệt hại mà nó đã gây ra cho nước Nhật. Nhưng đó không phải là nội dung chính của bài viết này, ở đây, mình muốn kể cho các bạn nghe về quả bom hạt nhân lớn nhất thế giới mà con người từng tạo ra, với sức mạnh không thể tưởng tượng được. Quả bom đó có tên là Big Ivan, hay còn được biết tới với một tên khác là Tsar Bomba, do Liên Xô cũ chế tạo từ năm 1961, tức cách đây 52 năm.

Hồi tháng 7/1961, Tổng bí thư đầu tiên của liên bang Xô Viết là ông Nikita Khrushchev quyết định thôi chương trình thử nghiệm bí mật các loại vũ khí hạt nhân mà nước này đang thực hiện từ năm 1958 tới lúc bấy giờ, và "phải làm một cái gì đó" để phương Tây, nhất là Mỹ, biết tiềm năng quân sự của Liên Xô mạnh như thế nào. Và "việc đó" phải được thực hiện xong trước khi Đại hội Đảng Liên Xô lần thứ 22 được tổ chức vào 10/1961. Thời cơ đang chín muồi, các nước tư bản đều săm soi Liên Xô để xem anh Hai của chủ nghĩa Cộng Sản làm được gì.

Vấn đề trở nên phức tạp khi những thứ vũ khí hủy diệt hàng loạt mà Liên Xô đang có đều không làm Nikita Khrushchev thỏa mãn, ông ta muốn có thứ gì đó thật mạnh, phải mạnh hơn quả bom nhiệt hạch Castle Bravo mà Mỹ từng cho nổ hồi ngày 1/3/1954 (Đây là vụ nổ hạt nhân lớn nhất mà Mỹ từng thử nghiệm, sức công phá của quả bom khoảng 15 megaton). Một nhóm gồm 4 chuyên gia được lập ngay sau đó, gồm Victor Adamskii, Yuri Babaev, Yuri Smirnov và Yuri Trutnev. Điều kì diệu là nhóm này thiết kế và tạo ra quả bom Tsar Bomba dài gần 7,5 mét và có 3 tầng (hay còn gọi là Big Ivan) chỉ sau 15 tuần làm việc. Đây là loại bom hy-drô AN602 (bom khinh khí, bom H) sử dụng phản ứng nhiệt hạch để tạo ra một năng lượng khủng khiếp và thổi bay tất cả mọi thứ xung quanh nó. Người ta ước tính sức mạnh của Big Ivan gấp 1400 lần 2 quả bom Fat ManLittle Boy (2 quả bom Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945) cộng lại, hoặc nó bằng 10 lần tổng tất cả bom đạn mà con người sử dụng trong Thế chiến thứ 2 cộng lại. Ghê chưa?


Về cân nặng, Tsar Bomba nặng tới 27 tấn, gần bằng trọng lượng của chiếc máy bay Tu-95 dùng để chở nó, và vì kích thước quá khổ như vậy (dài 7,5 mét) mà người Soviet lúc này phải tháo luôn khoang chứa bom của máy bay mới nhét vừa quả bom vào trong. Lúc 11 giờ 32 trưa ngày 30/10/1961, thiếu tá Andrei Durnovtsev lái chiếc Tu-95 mang quả bom bay đến và thả nó xuống trạm thử hạt nhân ở vịnh Mityushikha, vùng đất phía Bắc nước Nga ngày nay, ở độ cao 10,5km. Big Ivan được mang dù để rơi từ từ xuống, để dành ra 188 giây cho Andrei kịp bay chiếc Tu-95 thoát khỏi vùng ảnh hưởng của vụ nổ. Khi rơi xuống còn độ cao 4000 mét thì quả bom nổ.

big ivan
Ảnh màu của vụ nổ bom hạt nhân Big Ivan

Quả bom tạo ra một vụ nổ lớn ngoài sức tưởng tượng lúc bấy giờ, một cột lửa hình cây nấm cao 64.000 mét (không nhầm đâu, là 64 km thật đó) vương đến tầng bình lưu của bầu khí quyển và đường kính của cột lửa dài đến 3000 mét. Sức mạnh của vụ nổ tạo ra một vụ chấn động tương đương 5 độ richter, áp suất không khí lên tới 300 PSI và ánh sáng của vụ nổ có thể dễ dàng thấy được dù ở cách xa đó 1000km. Vụ nổ đã làm vỡ rất nhiều cửa sổ nhà cửa ở Na Uy và Phần Lan, vốn cách đó tới 900 km và sang bằng tất cả công trình, tòa nhà bỏ hoang ở Severny cách đó 55 km. Một người chứng kiến vụ nổ đã nói rằng cột lửa và khói do Big Ivan tạo ra nhìn như một ngôi sao Mộc thu nhỏ.

Thực ra, đó chỉ là một nửa sức mạnh thực sự của quả bom Big Ivan, vốn được thiết kế với sức mạnh 100 megaton, nhưng cuối cùng đã được thu gọn lại còn 57 megaton. Được biết, trước thời điểm cho nổ thử thì Liên Xô đã quyết định cắt bớt 50% sức mạnh của quả bom, nhằm ngăn ngừa vụ nổ sẽ thổi bay luôn một phần đất nước, thật may là họ đã có quyết định đúng đắn như vậy.

original
So sánh cột khói của các vụ nổ, bom Little Boy chỉ là một chấm nhỏ so với Tsar Bomba